Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HCM
an nam chi luoc1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:59' 02-09-2010
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:59' 02-09-2010
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
V i ệ n
Đ ạ i
H ọ c
H u ế
Ủy B a n P h i ê n Dịc h Sử L iệu V iệt N a m
AN
NAM
LƯỢC
CHÍ
Soạn giả:
LÊ TẮC
Thế Kỷ 14
(1335)
2
hợp:
An Nam Chí Lược - Tựa
bacle@hotmail.com
3
An Nam Chí Lược - Tựa
Lời Giới Thiệu
Song song với công việc biên mục Châu bản triều Nguyễn, Ủy ban Phiên
Dịch Sử Liệu Việt-Nam
đã lập một kế hoạch riêng để hiệu đính và phiên dịch các bộ sử Việt Nam. Theo
kế hoạch dự định ấy, các phiên dịch viên trong Ủy ban đã tham khảo các truyền
bản tàng trử tại các thư viện Nhật Bản, Trung Hoa và Anh Quốc, làm xong một
hiệu bản của bộ An Nam Chí Lược và hoàn thành một bản phiên dịch Việt văn.
Nói về cuốn An Nam Chí Lược, ai ai cũng biết rõ soạn giả Lê Tắc là một
tên phản bội với Tổ quốc. Trong lúc nước nhà đang gặp ngoại xâm, xã tắc nguy
cấp, nhân dân đau khổ, Lê Tắc cùng bọn Trần Kiện và Trần Ích Tắc, không
những không chịu gắn sức phấn đấu để cứu nước cứu dân, trái lại nhẩn tâm và
làm tôi địch. Hơn nữa, trong bộ An Nam Chí Lược, Lê Tắc quên mình là người
Việt, dựa vào
lập trường và quan điểm người Nguyên để soạn tập. Chẳng hạn, như những lời
nịnh nọt a dua của soạn giả, những đoạn văn kiêu ngạo tự tôn tự đại trình bày
trong các chiếu chỉ nhà Nguyên và trong các bài tựa các danh nhân hồi ấy, đều
khiến cho chúng ta vô c ùng uất ức và đau đớn.
Sở dĩ Ủy ban lấy bộ An Nam Chí Lược làm công việc phiên dịch đầu tiên, là vì
bộ ấy có lẽ là bộ sử
xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra, và gồm có nhiều sử liệu đáng quý có
liên quan đến cổ sử
và trung sử Việt Nam, chứ không phải Ủy ban có chút định nào dung thứ những
hành động và quan niệm sai lầm của soạn giả đối với tổ quốc. Nói khác, chúng tôi
coi cuốn sách này là một sử liệu, là một
đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy, bởi vậy, thành thực muốn cung cấp
một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy cho học giới mà thôi.
Trong hai nghìn năm quốc sử, chúng ta không thể không công nhận rằng
còn nhiều chỗ thiếu sót, mơ hồ, đang chờ đợi sự cố gắng của sử gia Việt Nam, để
bổ túc hoặc xác định lại. Vậy, điều cần thiết cho nền sử học Việt Nam ngày nay
là gây phong trào nghiên cứu theo phương pháp khoa học, nhất
là về phương diện sưu tầm và khảo đính sử liệu, chúng ta nên tìm cách nâng đỡ và
xúc tiến. Căn cứ vào quan điểm ấy, tôi thành thực tin rằng bộ hiệu bản và bản dịch
này là một thực hiện mới của nền sử học
tại Việt Nam, và sẽ đem lại rất nhiều bổ ích cho công việc tìm tòi sự thực trong quốc
sử.
Huế, ngày 22 tháng 4 năm
1960
Viện Trưởng Viện Đại
Học Huế
L. M. Cao Văn Luận
4
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
An-Nam
C h í - L ư ợ c
Quyển Đệ Nhất
Cổ - Á i Đ ô n g - Sơ n L ê - T ắ c B i ê n
Tống Tự
Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua Chuyên-Húc,
phía bắc đi tới U-Lăng, phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai Hy Hoà
qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam yên-vỗ Giao-Chỉ. Qua đời
Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ Việt-Thường qua chín
lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có gió bảo, không mưa
dầm, ngoài biển không
nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao
chẳng tới chầu?". Lúc bấy giờ, Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ
Việt-Thường tới chầu: "Ô hi ta ta! Phi Đán chi lực, Văn-Vương chi đức", nghĩa là:
ôi ôi! vui thay, cảnh-tượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của Chu-
Công) mà là nhờ đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửa-Châu,
ở phía nam Giao- Chỉ.
Quyển Hán-Quan-Nghi của Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc
mở mang từ "sóc" (phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ
chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ"
(cái nền) là viết sai.
Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến
khi nhà Tần loạn thì
Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết các quận quốc, rồi tự lập
làm vua. Khi ấy, Hán- Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập Đà làm Việt-Vương. Sau khi
Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu
xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa. Văn-đế lại sai người đưa thư qua trách
Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế, nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con
cháu họ Triệu truyền xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào
chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia làm
phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà Hán, lập Kiến-Đức là anh khác mẹ
lên làm vua Nam-Việt.
Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức
xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người Việt,
lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương- Ngô, Uất-Lâm, Hợp-Phố, Giao-
Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận đặt Thái-thú
để cai trị.
Qua nguyên-niên Sơ-nguyên của Nguyễn-Đế (48-33 trước công nguyên),
bãi bỏ hai quận Châu- Nhai và Đam-Nhỉ, còn lại bảy quận, kể cả Giao-Chỉ. Khi
đầu, Giả-Quyên-Chi tâu rằng: Châu-Nhai, Đam Nhỉ, đều ở hải ngoại; xứ ấy
thường cậy thế hiểm trở mà làm phản, đến lúc dụng binh tới dẹp, thì chỉ có miếng
đất vô dụng mà thôi, nếu bỏ đi cũng không đáng tiếc. Vua Hán b èn hạ lời chiếu bãi
bỏ.
Nhan-Sư-Cổ nói: bảy quận đều thuộc về Giao-Châu, theo chế độ nhà Hán, các
quận thuộc châu, nên đặt Thứ-sử Giao-Châu để cai-trị chung.
Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có
người đàn bà Giao-Chỉ
tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi
dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.
5
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Năm Kiến-An thứ 15 (210), Hiến-Đế dời chỗ cai trị qua quận Nam-Hải.
Vương-Phạm nói: chỗ quận trị của quan Thứ-sử ở đất Giao-Châu, cuối đời
Hán, đổi qua Nam- Hải, khi Tôn-Quyền mới được ấn mạng của nước Nguỵ, cũng
cầm cờ mao tiết làm tổng-đốc Giao-Châu và kiêm lĩnh Kinh-Châu. Tôn-Tư làm
Giao-Chỉ Thái-thú quá tham bạo, bị quận lại Lữ-Hưng giết, các quận Cửu-Chân
và Nhật-Nam đều phản, và hàng nhà Tấn.
Tôn-Quyền thấy Giao-Chỉ ở xa, bèn chia Giao-Châu đặt Quảng-Châu và dời
quận trị của Giao- Châu qua Long-Biên.
Nguyên niên Kiến-Hoành (269), vua nước Ngô là Tôn-Hạo sai các tướng là
Tiết-Hủ, Đào-Hoàng qua thu phục Giao-Chỉ, giết các tướng do nhà Tấn đặt ra, như
vậy đất Cửu-Chân lại thuộc về Ngô. Đến
lúc nước Ngô mất, Giao-Châu trở về nhà Tấn, trải qua các triều: Tống, Tề, Lương,
Trần, Tuỳ, Đường đều
để y như cũ, chỉ cải tên Cửu-Chân làm Ái-Châu, Nhật-Nam làm Hoan-Châu, đều
thiết Thứ-Sử, hoặc đặt Giao-Châu tổng-quản hoặc An-Nam đô-đốc để thống trị.
Qua đời Đờng mới chia Lĩnh-Nam làm đông tây đạo, đều đặt Tiết Độ-Sứ, lại đặt
ra năm quận: Quế, Quản, Ung, Dung và An-nam, đều thống thuộc Đông-đạo,
về phận Tây-đạo, thì đặt An-nam đô-hộ kiêm cả ngũ quản. Kinh-Lược-Chiêu-
Thảo-Sứ là Trương-Bá-Nghi đắp La-Thành tại An-nam, công trình chưa xong, đến
năm Nguyên-Hoà thứ 3 (808), đô-
hộ là Trương-Chu đắp tiếp thêm mới hoàn công. Lâm-Tư nói rằng: La-Thành chu-
vi 2000 bước, tốn hết
25 vạn công.
Đến đời vua Tuyên-Tông, niên hiệu Đại-Trung (847-859) có viên đô-hộ cai
trị không được đứng đắn, đãi dân bằng lối bạo ngược, họ bèn liên-kết với rợ
Nam-Chiếu, trở lại đánh phủ An-nam, cuộc rối loạn chém giết kéo dài luôn mấy
năm không thôi. Năm Hàm-Thông thứ 3 của vua Y-Tông, (682), nước Nam-
Chiếu đánh hãm La-Thành; viên Kính-Lược-Sử Thái-Tập bị chết, vua sai Cao-
Biền làm chức đô-hộ, đem quân đánh khôi phục phủ thành, chém tướng mọi là
Đoàn-Tù-Thiên và bọn quân mọi hơn 30.000
cái đầu; rồi tu bổ La-Thành lại, cải xưng đô-hộ-phủ Tịnh-Hải-Quân. Biền được trao
cho làm chức Tiết-Độ- Sứ.
Kịp dời Ngũ-Đại, các người thố hào ở các Châu Giao, Ái là Khúc-Hạo,
Dương-Diên-Nghệ, Kiều- Công-Tiện, v.v... thay nhau d ùng võ lực cướp quyền.
Tướng cũ của Nghệ là Ngô-Quyền bèn giết Công-Tiện mà tự lập làm vua,
truyền được vài đời, đến khi Ngô-Xương-Văn chết, thì có bộ thuộc là Ngô-Bình
(tức Lữ-Xữ-Bình), dành làm vua; Đinh-Bộ-Lĩnh giết Ngô-Bình, lãnh nước Giao-
Chỉ, tự xưng là Vạn-Thắng-Vương, lại tự ý cho con Liễn làm Tiết-Độ-Sứ.
Đầu nhà Tống, Liễn khiến Sứ nhập cống, Thái-tổ phong Bộ-Lĩnh làm Giao-
chỉ Quận-Vương và hạ chiếu cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-nam đô-hộ. Sau Liễn
và cha đều mất, em là Triền kế lập thì bị Thái- Hiệu Lê-Hoàn phế bỏ và cướp
ngôi. Lê-Hoàn giả làm tờ biểu dâng vua nh à Tống, nói rằng:
Triền khiến Hoàn thay làm vua. Thái-Tông nhà Tống bèn phong Hoàn làm
vua. Nhà Lê truyền được ba đời, cộng ba mươi năm, bị Lý-Công-Uẩn cướp
ngôi. Vua Chân-Tông lại phong Công-Uẩn làm Giao-Chỉ Quận-Vương.
Năm Long-Hưng thứ 2 của Hiếu-Tông (1164), Lý-Thiên-Tộ sai sứ nhập
cống, được vua Tống phong làm An-nam quốc-vương, tên nớc An-nam bắt đầu từ
đó.
Họ Lý truyền ngôi được tám đời, không có con trai, do con gái l à Chiêu-
Thánh nối ngôi.
Trong năm Canh-Dần niên hiệu Thiệu-Định nhà Tống (1230), Chiêu-
Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần-Nhật-Cự (tức Trần-Cảnh), vua Tống lại
phong Nhật-Cự làm An-nam Quốc-Vương.
Năm Quý-Sửu (1253), Đại-Nguyên đã dẹp yên Vân-Nam, đến mùa đông
năm Đinh-Tỵ (1257), sai Đại-Soái là Ngột-Lương Hợp-Đãi đem quân qua biên-
giới An-nam, do đường Quảng-Tây để hội binh đánh nhà Tống; quân-đội nhà Trần
chống cự, không được thắng, bèn nạp khoản xưng thần, rồi khiến bồi-thần dâng lời
biểu và thường năm qua cống hiến phẩm vật.
Đến năm Tân-Dậu niên-hiệu Trung-Thống (1261), vua Thế-Tổ Hoàng-Đế
lại phong họ Trần làm vua An-nam; qua năm Đinh-Sửu, hiệu Chí-Nguyên
(1277), vua Trần mất, Thế-Tử (tức Nhật-Hoảng), không xin sắc-mạng, mà tự
lập làm vua, nên vua sai Thượng-Thư bộ Lễ là Sài-Thung sang mời nhập
6
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
triều; vua Trần mượn cớ có tật không đi. Qua năm sau, lại lấy cớ có tật không đi, sai
quốc-thúc là Trần-
Di-Ái sang triều-kiến. Thế-Tổ viện cớ vua có bịnh, bèn lập Di-Ái làm vua.
Năm Tây-Tỵ (1281), sai Sài-Thung nhận chức An-nam-Hành Tuyên-Uý-Sứ
Đô-Nguyên-Soái, xuất binh 1000 người, đưa Di-Ái về nước, đi đến địa-giới Vĩnh-
Bình, An-nam không chịu nhìn nhận, Dị-Ái sợ, ban đêm trốn về, chỉ sai bồi-thần
thay mặt tiếp rước Sài-Công vào nước, tuyên lời dụ chỉ của vua rồi trở
về.
Năm Nhâm-Ngọ, hiệu Chí-Nguyên (1282), quan Hữu-Thừa là Toa-Đô cầm
quân qua đánh thâu Chiêm-Thành, triều-đình sai sứ yêu-cầu vua An-nam cho
mượn đường tiến binh, và giúp quân lương, Thế-Tử (tức vua Trần) không chịu.
Đến mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), vua sai Trấn-Nam-
Vương Thoát-Hoan và quan Bình-Chương là A-Lý-Hải-Nha tiến tới biên giới,
Thế-Tử kháng cự, thua chạy, em là Ích-Tắc, quy thuận vào chầu, vua thương tình,
phong Ích-Tắc làm An-nam quốc-vương,
lại phong cận-thần là Trần-Tú-Viên làm Phụ-Nghĩa-Công, các quan l ại đi theo cũng
đều cho tước-vị.
Năm Đinh-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1287), Thế-Tổ sai Trấn-Nam-Vương và
quan Bình-Chương là
Áo-Lỗ-Xích cầm quân qua bình-định An-nam, khi quân kéo đến, Thế-Tử đánh
thua, chạy trốn ngoài hòn đảo ở giữa biển. Qua mùa xuân, tháng ba, năm sau,
Trấn-Nam-Vương thấy khí-hậu nước An-nam quá nóng-nực độc-địa, bèn kéo
quân về.
Trong năm Quý-Tỵ hiệu Chí-Nguyên (1293), vua lại sai Đại-Vương Ích-
Cát-Liệt-Đải và quan Bình- Chương là Lưu-Nhị-Bạt-Đô, v.v... qua đóng đồn tại
đất Việt, để chờ qua năm là năm Giáp-Ngọ (1294), trong khoảng mùa thu thì tiến
binh. Nhưng tháng giêng năm ấy vua Thế-Tổ băng; qua tháng tư mùa hạ, Thành-
Tông Hoàng-Đế lên ngôi, hạ chiếu bãi binh, lại khiến quan Thị-Lang bộ Lễ là Lý-
Hản, quan Lang- Trung là Tiêu-Thái-Đăng đi sứ qua An-nam tha tội cho Thái-Tử
An-nam và dẫn sứ-thần An-nam là Đào-
Tử-Kỳ về nước để tuyên lời dụ-chỉ. Lúc đó, Thế-Tử đã mất từ mấy năm, nên con
vua suất các quan liêu
ra đón, đặt bàn xông trầm, trông về cửa khuyết (nước Nguyên) mà lạy tạ ơn. Lại
khiến bồi-thần qua dâng lời biểu chúc mừng, xin làm phiên-thần vĩnh-viễn, chiếu-lệ
thường triều-cống, đến nay vẫn còn.
Nam-Giao đời xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần gọi là Tượng-
Quận, nhà Hán đặt làm ba quận: Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam. Nhà
Đường lại cải Giao-Châu làm An-nam phủ, quận Cửu- Chân làm Ái-Châu, quận
Nhật-Nam làm Hoan-Châu, tức là La-Thành, Thanh-Hoá và Nghệ-An ngày nay
vậy.
Quận-ấp
Đất Nam-Giao xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần đặt tên là Tượng-
Quận. Đến cuối nhà
Tấn, Nam-Hải-Uý là Triệu-Đà đánh tóm thâm đất, tự lập làm một nước riêng và
tiếm xưng vương-hiệu.
Sơ niên Tây-Hán, Cao-Tổ phong Đà làm Nam-Việt-Vương, trải được mấy đời, thì
tướng Nam-Việt là Lữ-
Gia làm phản, giết vua Triệu và các sứ-thần của nhà Hán. Vũ-Đế sai Phục-Ba
tướng-quân Lộ-Bác-Đức sang đánh diệt Nam-Việt, rồi đặt ra chín quận, bổ quan
cai trị. Nước An-nam ngày nay tức là 3 quận Giao-Chỉ, Cửu-Chân và Nhật-Nam
ở trong chín quận ấy.
Về sau các triều đ ại kế tiếp, chế-độ quận huyện không nhứt định.
Qua đời Ngũ-Đại (907-959), người đất Ái-Châu là Ngô-Quyền, chiếm giữ
quận Giao-Chỉ; đời sau các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, nối nhau tranh quyền, đều
được nhà Tống phong vương tước. Quan-chế, hình-pháp và hành-chính, ít nhiều
học của Trung Hoa, còn về quận-ấp hoặc theo cũ, hoặc đổi mới, nay
lấy đại-khái mà chép lại.
Đại-La Thành-Lộ1: xưa là nước Giao-Chỉ, đời nhà Hán để như cũ, nhà
Đường đặt làm An-nam
đô-hộ-phủ, thành phủ ở tại phía tây bờ sông Lư-Giang; Trương-Bá-Nghi đời
Đường bắt đầu xây thành
1 Chữ-Lộ, theo nghĩa chính là đường đi, nhưng ở trong sách sử Địa thì có khi là một
tỉnh, một phủ, huyện, một địa hạt, một thành-
phố hay một châu quận.
7
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
ấy, Trương-Chu, Cao-Biền tiếp-tục sửa sang đắp thêm. Trong thời Chân-Tông nhà
Tống, Lý-Công-Uẩn
người quận ấy, kiến-quốc tại đây. Đến nhà Trần nối theo nhà Lý lấy đất ấy đạt thêm
ba phủ nữa: Long- Hưng, Thiên-Trường và Trường-An.
Long-Hưng-Phủ: tên cũ là Đa-Cương-Hương. Tổ-tiên họ Trần lúc còn hàn-
vi, ban đêm đi qua một cái cầu khe, khi qua rồi, ngoảnh lại, không thấy cầu nữa.
Chẳng bao lâu, họ Trần được nước, người
ta gọi khe ấy là Long-Khê, nên đổi tên Đa-Cương làm Long -Hưng.
Thiên-Trường-Phủ: tên cũ là Tức-Mặc-Hương, nơi phát-đích họ Trần. Đến
khi họ Trần được nước, xây một hành-cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để tỏ ra là
không bỏ quân chỗ phát-tích của ông
bà, rồi đổi tên làm Thiên-Trường-Phủ, chỗ ấy có nước thuỷ-triều chảy quanh
thành, hai bên bờ mọc nhiều cây hoa, khí th ơm ngát người, hoạ-thuyền qua lại,
giống như cảnh tiên vậy.
Trường-An-Phủ: vốn là động Hoa-Lư; chỗ sinh ra Đinh-Bộ-Lĩnh, cuối đời
Ngũ-Quý, họ Đinh lập quốc tại đó.
Qui-Hoá-Giang-Lộ: tiếp với biên-giới Vân-Nam.
Tuyên-Hoá-Giang-Lộ: tiếp giáp đạo Đăc-Ma.
Đà-Giang-Lộ: tiếp với địa-giới Kim-Xỉ.
Lạng-Châu-Giang-Lộ: tiếp với tả-giang và hữu-giang.
Bắc-Giang-Lộ: ở trên đông-ngạn của La-Thành, nước sông Lư-Giang thông
với biển, trên sông
có bắc 10 cái cầu đồ sộ và đẹp đẽ.
Như-Nguyệt-
Giang-Lộ. Nam-
Sách-Giang-Lộ.
Đại-Hoàng Giang-
Lộ. Hồng-Lộ.
Khoái-Lộ.
Châu
vậ
y.
Các châu đều tiếp địa-giới Quảng-Tây và Vân-Nam, tuy gọi là châu huyện,
nhưng sự thật là động
Quốc-Oai-Châu: ở phía nam thành Đại-La.
Cổ-Châu: ở Bắc-Giang.
Tiên-Châu: xưa gọi là Long-Biên.
Phú
-
Lư
ơng
-
Châ
u.
Tư-
Nôn
g-
Châ
u:
một
tên
khá
c
gọi
là
Dươ
ng-
Xá.
Địn
h-
Biê
n-
Châ
u:
một
tên
khá
c
gọi
là
Min
h-
Mỵ.
Vạn
-
Nha
i-
Châu: một tên khác gọi là Minh-Hoàng.
Văn-Châu: một tên khác gọi là Môn-Châu.
Thất-Nguyên-
Châu. Tư-Lang-
Châu.
Thái-Nguyên-Châu: một tên khác gọi là Hoàng-Nguyên.
8
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Thông-Nông-Châu.
Vị-Long-Châu: một tên khác gọi là Ất-xá.
Quang-Châu.
La-Thuận-Châu: một tên khác gọi là Lai-thần.
Hoàng-Đạo-Châu: tức Bình-
Lâm-Trường. Dư nữa, loại như
thế, không chép.
Tên Châu Thời Xưa
(Nhiều tên đã thay đổi, chỉ còn lại số ít)
Phong-Châu: nhà Ngô gọi Tân-Châu.
Tô-Mậu-
Châu.
Tô-
Vật-Châu.
Trường-
Châu. Nga-
Châu.
Đường-Châu: một tên khác gọi là Phương-Lâm.
Các Huyện
Võ-Ninh Huyện, Vạn-Tải Huyện, Khâu-Ôn Huyện, Tân-Lập Huyện, Hoảng
Huyện, Chỉ Huyện, Lịch
Huyện, Lan-Kiều Huyện, Truy-Diên Huyện, Cổ-Dũng Huyện, Cung Huyện, Quẫn
Huyện (Nguyên-sử chép
là Quật), Thượng-Pha Huyện, Môn Huyện.
Dư nữa không chép
Tên Huyện Thời Xưa
Long-Biên: Cuối đời Tây-Hán, trị-sở của Thứ-sử quận Giao-Châu tên là
Long-Uyên, sau vì có
Giao-Long hay lên nằm khoanh trên mặt nước, mới cải tên là Long-Biên1.
Chu-Diên: Huyện của đời Hán; đời Đường cải làm Diên-Châu, đặt ra hai
huyện Cao-Lăng và An-
Địn
h.
Liên-Lâu: Âm chữ trên là "liên", âm chữ dưới là "lâu". Thời Hán là tri sở của
thứ-sử Giao-Châu.
My-
Linh
: Trị-
sở
của
quan
Đô-
Uý quận Giao-Chỉ đời Hán.
Khúc-Dương: Âm là "Dương".
Câu-Lậu: Hồi trước Cát-Hồng làm huyện lệnh ở đây.
An-Thuận: Đời nhà Đường gọi là Thuận-Châu.
Sùng-Bình: Đời Đường là An-Bình.
Hải-Bình: Đời Đường là Ninh-Hải.
Cổ-Đô
An-
Định
1 K.Đ.V.S.T.G.C.M. chua rằng: Long-Biên là tên huyện đời nhà Hán, theo Thuỷ-
Kinh-Chú thì năm 13 hiệu Kiến-An (208), lúc bắt đầu
xây thành, có loài giao-long đến khoanh mình trên mặt nước, ở hai bên bến phía
nam và phía bắc, nhân đây mới cải tên lại là
Long-Uyên. Như vậy thì, tên Long-Biên có trước và Long-Uyên có sau.
9
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Phủ-Lộ Thanh Hoá
Đời Tây-Hán là quận Cửu-Chân, đời Tuỳ, Đường là Ái-Châu, những thuộc
Lương-giang, Ba-lung-giang, Trà-giang, Cống-giang, Thái-xa-giang, An-tiêm-
trường, Văn-trường,
Cổ-đằng-giáp, Chi-minh-giáp, Cổ-hoằng-giáp, Cổ-chiến-giáp, Duyên-giáp, Điền-sử-
giáp, Kiết-thuế-giáp.
Tên Huyện Thời Xưa
Đồ-Bàng: Chữ "bàng" theo Nhan-Sư-cổ-âm là "lung".
Cư-Phong: Là nơi Mã-Viện bắt được dư-đảng của Trưng-Trắc.
Vô-Công: Trị sở của Đô-Uý quận Cửu-Chân đời Hán.
Việt-Thường: Một tên khác là Cửu-Đức.
Nghệ An Phủ Lộ
Trong thời Tây-Hán là Quận Nhật-Nam, đời Tuỳ, Đường gọi là Hoan-Châu.
Ấu-Tân-Giang.
Giang. Kệ-Giang.
Minh-Đạo-
Thương-Lộ-
Giang. Đường-Gia-Giang.
Trương-Xá-
Giang.
Dư nữa không
chép.
Diễn-Châu lộ
Vốn là thuộc huyện của quận Nhật-Nam, gọi là Phù-Diễn và An-Nhân,
nhà Đường đổi tên là
Diễn-Châu.
Cự-Lại-Giang.
Tha-Viên-
Giang. Hiếu-Giang. Đa-Bích-
Trường. Cự-Lam-Xã.
Cao-
Gia-Xã.
Ban-Bát-Xã.
Dư nữa không chép.
Bố-Chánh phủ lộ
Nguyên là huyện Tượng-Lâm, quận Nhật-Nam đời Tây-Hán.
Cuối đời nhà Hán, có người trong ấp giết huyện lệnh, tự l ập thành nước, gọi
là Lâm-ấp.
Đầu niên hiệu Nguyên-Hoà (806-820) nhà Đường, lại thuộc về An-nam phủ,
nay tên là Bố-Chính. Trong xứ ấy, núi trùng-điệp, cho nên Liễu-Tử-Hậu có câu thơ
rằng: "Lâm-ấp đông hồi sơn tợ kính", nghĩa
là "từ phía đông quanh lại xứ Lâm-ấp, núi dựng như cây giáo".
Đồ-Lê-Giang: (Tiếp giới Chiêm-Thành).
1 Chữ giang là sông, nhưng gặp về địa-danh thì có nghĩa là một quận, huyện, xã,
v.v...
10
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Núi
Núi Phật-Tích: vì trên đá có dấu chân, nên đặt tên là Phật-Tích.
Núi Tản-Viên: hình núi như cái tán.
Núi Tiên-Du: có hòn đá bàn-thạch, dợn có đường gạch như bàn cờ, tương
truyền rằng: xưa có tiên đánh cờ vây ở đó. Bọn con gái đi hái củi thường đến
giao-hợp ở trên đá bàn cờ, nên hòn đá ấy đổ xuống và nứt vỡ.
Núi Võ-Ninh: Tục truyền rằng ở dưới núi có mộ của Triệu-Việt-Vương.
Núi Phổ-Lại: Năm Đinh-Vị, Chí-Nguyên, (có lẽ chép nhầm năm Đinh-Hợi
Chí-Nguyên tức năm
1287 A.D.), quan binh có t ới làm hang rào cây, đ ể chứa lương thực ở đó.
Núi Vạn-Kiếp: Trở mặt ra một con sông lớn, sau lưng có núi muôn trùng,
rừng rậm tre cao, dưới nước trên cầu, phong cảnh rất đẹp. Hưng-Đạo-Vương đã từng
ẩn ở trong ấy.
Núi Kiệt-Đặc: Đi đường tắt vào núi thì thấy hoa và cây rậm rạp tốt đẹp, có
suối ngọc chảy mòn
đá, lửa đóm rước người (vào chơi), mát mẽ lạ lùng, cõi đời không có.
Núi Yên-Tử: Gọi là Yên-Sơn hoặc là Tượng Sơn, bề cao lên quá từng
mây. Đầu niên hiệu
Hoàng-Hựu, nhà Tống (1049-1053), gọi là Xứ-Châu, hồi giữa niên-hiệu Đại-
Trung Trường-Phù (1008-
1016), triều đình lại ban tên là Tử-Y-Đông-Uyên. Đại-Sư là Lý-Tư-Thông có dâng
lên vua hải-nhạc danh- sơn-đồ và vịnh thơ tán: Phúc-Địa thứ tư tại Giao-Châu là
Yên-Tử-Sơn.
Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ,
Yểu-điệu hình khe trổ một
ngành. Tiên cỡi loan qua
ngồi cảnh tịnh,
Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
Tắc Sơn: Có động Yên-La, đỉnh núi Tý-ngọ, đều xinh đẹp lạ kỳ. Thiện-
Lạc-Vương thường dắt
đệ-tử vào đó.
Núi Địa-Cận: Núi ấy rất cao và hiểm trở, có cây tùng đã lâu đời, tục truyền
có rồng khoanh ở
trên cây ấy. Trần-Thái-Vương có làm hành -cung tại đó.
Núi Thiên-Dưỡng: Tốt đẹp mà hiểm, khi thủy-triều lên xuống mới chèo
ghe đi tới được. Họ
nhà vua xây dựng nhà cửa ở trong, để tránh qu ốc-nạn.
Động Võ-Lâm: Xưa nước An-nam, đời vua thứ tư của nhà Trần là Trần-
Nhân-Vương, bỏ ngôi vào ẩn ở đó để thành đạo, hiệu là Trúc-Lâm đạo-sĩ, có làm
Hương-hải-ấn-thi tập, truyền lại đời sau.
Núi Thần-Đầu: Núi ấy làm ranh giới cho hai quận La-Thành và Thanh-Hoá.
Thế núi liền nhau
có hai bờ, nước thuỷ-triều ngoài biển chạy vào ở giữa.
Thời xưa người ta tới đục mở ba hòn núi ở bờ phía nam để tiện sự qua
lại. Hồi trước Thánh- Vương nhà Lý, đánh nước Chiêm-Thành, ý muốn vượt qua
biển, nhưng gặp mù và sóng lớn, đi không được, mới cầu thần ở núi ấy, rồi đi
được, khi về lập đền thờ ở đó, từ đó về sau, các h òn núi đều thuộc về Thanh-Hoá
cả.
Long Đại-Nham: Gọi là Bửu-Đài, sầm uất mà tốt đẹp đặc biệt, trong vách
đá có khoảng trống làm chỗ thờ phật, ở ngoài như treo những hoành đối, trổ dáng
nhà cửa, giàn trước có con sông trong, bọc sau lưng có hồ sen đỏ, cây thông bóng
mát vài dặm, núi non liên tiếp muôn trùng. Xưa có truyền lại rằng có con chuột rất
lớn ở trong hang núi, n ên tục gọi là hòn lèn "Con dơi".
Núi Văn-Trường: Đá núi ấy rất tinh khiết mà trắng, làm hạt châu-thuỷ-tinh
được.
Biện-Sơn: Ở ngoài bể khơi, xưa có những thú-vật thình-lình hoá kiếp những
võ và xương tấp vào, xuyên qua hang đá, nay vẫn còn.
11
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Núi An-Hoạch: Sản-xuất đá làm bia, làm đỉa nghiên. Sách cũ có chép: Dự-
Chương Thái-Thú
Phạm-Nịnh sai sứ tới quận Cửu-Chân lấy đá làm khánh đ ể dùng ở trong trường học.
Núi Đông-Sơn: Chạy tới sông Chi-Minh, đã cao lại tốt, trên núi có hang, trèo
lên mà trông, sắc nước in trời thật là một cảnh rất đẹp. Phụ-thân tôi, (Lê-Tắc) thời
trung-niên, thôi làm quan, tự hiệu là
Tư-Duy cư-sĩ, thường ẩn-cư trong hang núi ấy.
Núi Khu-Na: Cao, rộng, nhiều ma, những con ma nầy mỗi khi ra khỏi núi lại
đốt nhà của người
ta. Nhân có nhà sư tên là Phụng-Phù, cứ ngày đêm đọc bài chú đại-bi, ma sợ tránh
đi xa, người ta mới khỏi bị hại. Núi ấy có nhiều trái cây ăn được, ai đến tha hồ mà ăn,
nhưng hễ đem về thì lạc mất đường.
Núi Lập-Thạch: Là một hòn đá đứng sững vậy. Tương truyền rằng thuở xưa
có ông thần dựng một hòn đá to lớn để vạch địa hạt Ái-Châu và Diễn-Châu.
Núi Đà-Kỹ: Có một khoảng đất vườn, ở sát bờ biển, sinh ra thứ đá đen như
hình con cờ, hình
sắc thật đẹp, đáng yêu. Ta thường ra chơi, gặp ông già nói rằng: "cách đây hơn một
trăm dặm, lại có sản-xuất con cờ đá trắng". Tục truyền rằng: người tiên thường đánh
cờ vây ở đó.
Núi Hương-Tượng: Rất cao rộng, sản-xuất gỗ thơm, tê-ngu và voi.
Sùng-Sơn: Thẩm-thuyên-Kỳ, đời nhà Đường bị đày qua đất Hoan-Châu, có
làm bài Sùng-Sơn hướng Việt-Thường thi:
Buổi mai leo đến núi Sùng,
Việt-Thường xế đến, ngồi trông
bóng chiều. Hang Sam-Cốc theo
chiều bóng lặn,
Từ Trúc-Khê ra thẳng Bắc-
Phương. Trúc-Khê, Minh-
Thuỷ thông-thương,
Rày Hang Sam-Cốc, xưa đường
Sùng-Sơn. Núi so le, cây ngàn
thưa nhặt,
Quấn quít nhau ràng mắc thành chùm.
Đầy gò lá quế xanh um,
Hoa đằng nẩy nở trong lùm
đá ngăn. Trời lồng lộng còn
dăng cửa sổ,
Cảnh âm thầm đá trổ hang
mây. Thợ trời dường lắm
công xây,
Bao nhiêu thẳng-tích người rày
tới nơi. Không phải muốn tìm
nơi quái dị,
Khoan thai chưa qu yết chí lui về.
Phân Sơn: Lại còn gọi là Liệt-Sơn, hai nước An-nam và Chiêm-Thành, lấy
núi này làm ranh-giới, tục truyền rằng cây cỏ ở trên núi ấy cũng chia hai: bên ngã về
Nam, bên ngã về Bắc.
Núi Kim-Ngưu: Sách xưa chép đá núi ấy đều sắc đỏ, trong đá có chất vàng,
đêm lại thì sáng như con đom-đóm.
Núi Đô-Long: Nơi Lưu-Phương đánh bại Lâm-ấp.
Sông
Sách xưa chép các con sông như Yêm-Thuỷ, Lô-Du-Thuỷ, Lậu-Thuỷ, Tây-
Tuỳ-Thuỷ đều từ Đông- nam đất Tuấn-Việt chảy đến Long-Môn đất Giao-Chỉ.
Dương-Hùng (đời nhà Hán) nói rằng: "các xứ hoang nhàn ở giải đất Giao-Chỉ,
nước tiếp giáp với
trời
".
Lô-Giang: Sông Tam-Đái (ba giải) chảy tới La-Thành, lại từ sông Lô thông
ra biển.
12
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Tô-Lịch-Giang: Chảy quanh La-Thành, trên sông có năm cái cầu, đều làm
rất đẹp. Hiệu Chí-
Nguyên năm Bính Tý (1276), nhà Tống mất, Tăng-Uyển-Tử trốn sang An-nam, đi
chơi qua cầu Lịch- Giang có ngâm bài thơ rằng:
Đầu bạc chàng Tô1, trời
một góc, Theo tiên vua Võ,
nhạn về Nam. Trên cầu
sông Lịch trông về Bắc,
Trải mấy lằn thu thấy
chẳng nhàm.
Tam-Đái-Giang: Nước sông Qui-Hóa từ Vân-Nam chảy về, nước sông
Tuyên-Quang từ Đặc-Ma-
Đạo chảy tới, nước sông Đà từ nguồn Chàng-Long chảy về, nhân có ngã ba, nên đặt
tên như vậy.
Phú-Lương-Giang: Là nơi Quách-Quỳ đời Tống đánh bại Giao-Chỉ.
Đại-Hoàng-Giang: Trong năm Giáp-Thân hiệu Chí-Nguyên (1284), là nơi
quan quân đánh phá
An-nam.
Đại-Ác-Giang: Một tên khác gọi là Đại-An.
Bà-Lữ-Uyên: (vực) nước sâu có nhiều thuỷ quái.
Từ-Liêm-Thuỷ: Theo sách Cửu-Vực-Chí chép rằng: Từ-Liêm-Thuỷ ở tại
Giao-Chỉ. Xưa ở bên sông ấy, Lý-Nhân-Tổ có mười anh em đều từ hiếu cả, nhân đó,
mới đặt tên như vậy.
Long-Môn-Thuỷ: Sách xưa chép: "huyện Phong-Khê, quận Giao-Chỉ có
Long-Môn-Thuỷ, nước sâu trăm tầm, cá con nào lớn vượt lên suối ấy được, thì
hóa rồng, nếu lên không được, thì bị thương nơi trán và bày mang ra".
Việt-Thường-Uyển: Cứ sách Phò-Nam-Ký, khoảng đất giữa khe núi, gọi là
uyển. Vườn Cửu-
Đắc, có tên là Bổ-Uyển.
Cổ-Tích
Việt-Vương-Thành, tục gọi là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-
vơng mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. Giao-
Châu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ theo
thuỷ-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân, người
cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn bằng đồng và
dải sắc xanh làm huy- hiệu. Vua nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi
chinh phục các Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An-Dương-
Vương. Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị thần tên là Cao- Thông
xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần, bắn một phát giết được muôn
người.
Triệu Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện
của An-Dương-Vương. Nay ở huyện Bình-Địa2, dấu tích cung điện và thành trì
Võ-Ninh, khiến Thái-Tử
Thuỷ làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái nỏ
của ta, thì còn nước, không giữ đ ược thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thuỷ lấy làm
đẹp lòng, rồi hai người
lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thuỷ xem, Thuỷ xem rồi lấy trộm
cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân tới đánh thì An-Dương-Vương bại
trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất
của An-Dương-Vương hãy còn.
1 Tức Tô-Vũ.
2 K.Đ.V.S.T.G.C.M. quyển thứ nhất, dẫn quyển An-nam-Chí của Cao-Hùng-Trưng,
đề huyện Đông-Ngạn.
13
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Lưu-Chiêu nói: Giao-Chỉ tức là nước An-Dương. Mã-Phục-Ba đời Hán dẹp
yên giặc ở Giao-Chỉ, rồi
dựng trụ đồng để làm giới hạn cho nhà Hán. Đời nhà Đường, Mã-Tống làm chức
An-nam đô-hộ, lại dựng
hai cái trụ đồng, vì Tống là con cháu của Phục-Ba. Xưa có truyền lại rằng: ở nơi
động Cổ-Sum, tại Khâm- Châu có cái cột đồng của Mã-Viện và lời thề rằng: "Hễ cái
trụ đồng nầy gãy, thì nước Giao-Chỉ tiêu-diệt",
vì thế, người Giao-Châu, mỗi khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân
cột đồng, nên chẳng bao lâu, nơi ấy hóa thành gò.
Đổ-Phủ có câu thơ rằng: "Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục-Ba quân" nghĩa là:
"mưa phía Bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục-Ba".
Ở cương-giới nước Chiêm-Thành cũng có cột đồng. Mạnh-Hạo-Nhiên có câu
thi: "Đồng trụ Nhật- Nam đoan", nghĩa là cột đồng đứng đầu đất Nhật-Nam.
Sách Cửu-Vực-Chí nói: "cái giếng tại Giao-Châu không phải người đào".
Mã-Viện khi đã dẹp yên Giao-Chỉ, có làm trâu bò, lọc rượu để đãi quân-sĩ,
trong lúc yến tiệc, Viện thong thả nói với liêu thuộc rằng: "Người em họ của ta
tên là Thiếu-Du thường hay thương tôi khẳng- khái có chí lớn và nói: "kẻ sĩ sinh ở
đời, miễn sao vừa đủ ăn mặc, đi cái xe tầm thường, cỡi con ngựa xấu
xí, làm chức lại thuộc trong quận, giữ phần mộ của tổ-tiên, làng xóm cho là người
hiền-lành, như vậy thì
đủ rồi. Còn như ham muốn cho dư dũ, thì chỉ là tự mình làm khổ cho mình đó
thôi". Hồi ta ở giữa Lãng- Bạc và Tây-Lý, chưa diệt được giặc, dưới thì nước lụt,
trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem lên thấy diều bay là là xuống nước, nhớ
lại lời nói bình thời của Thiếu-Du, ta tiếc không làm sao được như vậy".
Uy-Vũ-Miếu: Tô-Đông-Pha chép rằng: "nhà Hán có hai ông Phục-Ba đối với
dân Lĩnh-Nam đều
có công-đức. Ông Phục-Ba trước là Bì-Ly Lộ-Hầu, ông Phục-Ba sau là Tân-Tức
Mã-Hầu. Nước Nam-Việt
từ đời Tam-Đại trở xuống, không đời nào dẹp yên cả. Đời Tần (246-207 trước
công nguyên), tuy có đặt quan-chức cai-trị, song rồi trở lại tình trạng man-di. Bì-
ly mới diệt được nước ấy và chia làm chín quận. Nhưng đến đời Đông-Hán, lại có
người con gái là Trưng-Trắc, khởi binh rung động hơn sáu mươi thành. Đương
thời vua Thế-Tổ mới dẹp yên thiên hạ, thấy dân đã mõi mệt và chán việc dụng
binh, bèn đóng cửa Ngọc-Quan từ tạ Tây-Vực. Phương chi Nam-Việt là chỗ hoang
viễn, không đáng phiền-lụy đến quân-
đội nhà vua, nếu không phải Tân-Tức (hầu) chịu khó đánh dẹp thì dân chín quận
vẫn khoác áo bên trái
đến bây giờ. Do đ ấy hai Phục-Ba đáng được miếu thờ tại Lĩnh-Nam.
"Ở trên bể có nhà thờ Phục-Ba, trong niên-hiệu Nguyên-Phong (1078-
1085), có lời chiếu chỉ của vua (Thần-Tông nhà Tống), phong làm Trung-Hiển-
Vương. Hễ có ghe thuyền qua biển đều tới chỗ ấy mà bói, khi nào quẻ bói tốt, nói
đi được, mới đi, hễ quẻ xấu thì thôi, sự linh ứng khiến người ta phải tin, đúng
đắn như đo-lường, cân chỉ thăng bằng, không hề sai chậy.
"Than-ôi! không phải là người có đức cao dày, thì đâu được như thế? Tôi nhân
có tội bị đày qua
Đàm-Nhĩ ba năm, nay lại trở về bể Bắc, qua lại đều gặp gió xuôi, không lấy gì đền
đáp ơn thần, bèn lập bia và làm bài minh như sau:
"Sóng gió khôn lường nỗi
hiểm nguy, Cá rồng lặng lẽ
dữ hơn chi,
Tin cậy hai ông đã phù trì,
Nước sâu muôn sải
thuyền tỉ-ti. Từ đây qua
Nam cởi lòng nghi, Vỗ
về lương tâm song suốt
đi, Từ đây về Bắc thẳng
mình mi. Lúc đạt lúc
cùng cứ giữ nghi; Sống là
anh-kiệt, thác hùng uy,
Thần tuy không nói, ý mình suy".
Xung-Thiên-Miếu: Tại làng Phù-Đổng, hồi xưa trong nước rối loạn, chợt
thấy một người có uy
có đức, dân đều về theo, người ấy bèn cầm quân dẹp loạn, rồi bay lên trời đi mất,
hiệu là Xung-Thiên- Vương, dân lập đền miếu để thờ.
14
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Cổ-Châu-Phật: trong mùa xuân, mưa như xối, lụt to ở núi chảy xuống Trung-
Châu, chảy quanh
tại một chỗ, dân thấy lạ ra coi, trong nước có hòn đá giống như ông Phật; dân tới
cầu đảo có thần nghiệm, bèn đem gỗ khắc ra tượng Phật để thờ, gặp khi đại hạn, đến
cầu thì mưa liền, cho nên người ta
nói là "pháp vấn pháp võ", (nghĩa là mây mưa của phép Phật).
Báo-Thiên-Tự-Tháp: Xưa Lý-Thánh-Vương đánh Chiêm-Thành, được
người thợ giỏi, bảo xây một ngôi tháp cao mười ba tầng, đặt là "Thiên-Tư-Vạn-
Thọ-Thấp", lại lấy đồng đúc cái biển-ngạch gọi là "Đao-Lợi-Thiên", bị sét đánh
mất, không biết rơi nơi nào. Sau có người làm ruộng thấy được, đem dựng
lại, sét đánh mất một lần nữa.
Cửu-Trùng-Đài: Xưa Lý-Nhân-Vương làm một cái đài ở trên bờ ao Thuỷ-
Tinh. Khi gần xong, bị
sét đánh hư, làm lại cũng bị sét đánh nữa. Sau nghe tiếng giông pháp ra, Nhân-
Vương lấy vuông lụa điều trùm lên đầu, mang gươm lên đài, đốt hương mà khấn
vái rằng: "Nếu trời không cho tôi là ngay thật thì nên trách bảo tôi, còn cái đài
này chẳng có tội gì". Khấn xong một lát thì trời tạnh, đài ấy bèn làm xong. Người
cháu ba đời là Lý-Cao-Vương, khi nào nghe sấm sét thì sợ gần như chết. Các quan
hầu hiến một chước rằng: "Khi nào có s ấm sét thì lấy tay ôm cánh tay ông Ph ật, sẽ
khỏi lo sợ".
Phấn-Dịch-Đình: Theo tục người ta vì nắng nực, làm nhiều nhà trạm ở
dọc đường để cho người đi đường ghé nghỉ mát. Ông tổ họ Trần lúc còn hàn-vi,
hay ghé nghỉ tại đình trạm ấy, có nhà sư
nói rằng: "Anh (họ Trần), đến ngày sau nên bậc đại-quý", nói xong nhà sư biến đi
đâu mất. Kịp đến lúc
họ Trần dựng được nước nhà, liền khiến trong nước chỗ nào có đình tạm thì làm một
pho tượng Phật để
thờ mà báo ơn.
Kim-Bài-Châu: Có một ông già ở bên sông, người con đi ra bắt được một
cái trứng đem về. Ông già nuôi cái trứng ấy nở ra một con rắn, lại càng yêu
chuộng nuôi nấng, sau con rắn lớn lên, rồi xuống sông, thường đêm đem cá bỏ
trong sân. Khi ông già chết, ngày cúng tế, con rắn ấy tới dưới sân
bò quanh rồi đi; sau bên ông đất cát bồi đắp mãi thành một cái bãi, con cháu ông
ấy được lợi đời đời. Người ta nói: "Đó là con rắn báo ơn".
☯
☯
☯
Trong niên-hiệu Khai-Hy (1205-1207) vua Ninh-Tông nhà Tống, có Trương-
Hiệp, được vua ban
tên Thuỵ là Văn-Hiến, nguyên làm chức Triều-Thỉnh-Lang, trực Bữu-Chương-
Các, có soạn bộ sách Lịch- Đại-quận-huyện-địa-lý-thư 30 quyển, có chép các
châu quận nguyên thuộc An-nam đô-hộ phủ đời Đường. Về sau có thay đổi
không giống nhau, nay chép lại tạm để tiện việc tham-khảo:
An-nam lộ gồm có: Tống-Bình, Thái-Bình, Giao-Chỉ, Châu-Diên, Long-
Biên, Bình-Đạo, Võ-Bình.
Phong-Châu gồm có: Gia-Ninh, Tân-Xương, Thừa-Hóa, Cao-Sơn, Chu-
Duyên (Đường thư
chép là Thù-Lục (?)).
Tương-Châu gồm có: Tương-Giang, Ba-Linh, Hộc-Sơn,
Hoằng-Viễn. Nham-Châu gồm có: Thường-Lạc, Tư-
Phong, Cao-Thành, Thạch-Nham. Điền-Châu gồm có: Đô-
Cứu, Huệ-Giai, Võ-Long, Hoành-Sơn, Như-Lại.
Ái-Châu gồm có: Cửu-Chân, An-Thuận, Sùng-Bình, Nhật-Nam, Quân-Ninh,
Trường-Lâm.
Hoan-Châu gồm có: Cửu-Đức, Phổ-Dương, Việt-Thường, Hoài-Ho
Đ ạ i
H ọ c
H u ế
Ủy B a n P h i ê n Dịc h Sử L iệu V iệt N a m
AN
NAM
LƯỢC
CHÍ
Soạn giả:
LÊ TẮC
Thế Kỷ 14
(1335)
2
hợp:
An Nam Chí Lược - Tựa
bacle@hotmail.com
3
An Nam Chí Lược - Tựa
Lời Giới Thiệu
Song song với công việc biên mục Châu bản triều Nguyễn, Ủy ban Phiên
Dịch Sử Liệu Việt-Nam
đã lập một kế hoạch riêng để hiệu đính và phiên dịch các bộ sử Việt Nam. Theo
kế hoạch dự định ấy, các phiên dịch viên trong Ủy ban đã tham khảo các truyền
bản tàng trử tại các thư viện Nhật Bản, Trung Hoa và Anh Quốc, làm xong một
hiệu bản của bộ An Nam Chí Lược và hoàn thành một bản phiên dịch Việt văn.
Nói về cuốn An Nam Chí Lược, ai ai cũng biết rõ soạn giả Lê Tắc là một
tên phản bội với Tổ quốc. Trong lúc nước nhà đang gặp ngoại xâm, xã tắc nguy
cấp, nhân dân đau khổ, Lê Tắc cùng bọn Trần Kiện và Trần Ích Tắc, không
những không chịu gắn sức phấn đấu để cứu nước cứu dân, trái lại nhẩn tâm và
làm tôi địch. Hơn nữa, trong bộ An Nam Chí Lược, Lê Tắc quên mình là người
Việt, dựa vào
lập trường và quan điểm người Nguyên để soạn tập. Chẳng hạn, như những lời
nịnh nọt a dua của soạn giả, những đoạn văn kiêu ngạo tự tôn tự đại trình bày
trong các chiếu chỉ nhà Nguyên và trong các bài tựa các danh nhân hồi ấy, đều
khiến cho chúng ta vô c ùng uất ức và đau đớn.
Sở dĩ Ủy ban lấy bộ An Nam Chí Lược làm công việc phiên dịch đầu tiên, là vì
bộ ấy có lẽ là bộ sử
xưa nhất do một cá nhân người Việt soạn ra, và gồm có nhiều sử liệu đáng quý có
liên quan đến cổ sử
và trung sử Việt Nam, chứ không phải Ủy ban có chút định nào dung thứ những
hành động và quan niệm sai lầm của soạn giả đối với tổ quốc. Nói khác, chúng tôi
coi cuốn sách này là một sử liệu, là một
đối tượng cho cuộc nghiên cứu sử học thuần túy, bởi vậy, thành thực muốn cung cấp
một bộ hiệu bản và bản dịch đáng tin cậy cho học giới mà thôi.
Trong hai nghìn năm quốc sử, chúng ta không thể không công nhận rằng
còn nhiều chỗ thiếu sót, mơ hồ, đang chờ đợi sự cố gắng của sử gia Việt Nam, để
bổ túc hoặc xác định lại. Vậy, điều cần thiết cho nền sử học Việt Nam ngày nay
là gây phong trào nghiên cứu theo phương pháp khoa học, nhất
là về phương diện sưu tầm và khảo đính sử liệu, chúng ta nên tìm cách nâng đỡ và
xúc tiến. Căn cứ vào quan điểm ấy, tôi thành thực tin rằng bộ hiệu bản và bản dịch
này là một thực hiện mới của nền sử học
tại Việt Nam, và sẽ đem lại rất nhiều bổ ích cho công việc tìm tòi sự thực trong quốc
sử.
Huế, ngày 22 tháng 4 năm
1960
Viện Trưởng Viện Đại
Học Huế
L. M. Cao Văn Luận
4
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
An-Nam
C h í - L ư ợ c
Quyển Đệ Nhất
Cổ - Á i Đ ô n g - Sơ n L ê - T ắ c B i ê n
Tống Tự
Từ xưa nước An-Nam thông giao với Trung-Quốc, thời vua Chuyên-Húc,
phía bắc đi tới U-Lăng, phía nam đi tới Giao-Chỉ. Vua Đế-Nghiêu sai Hy Hoà
qua ở đất Nam-Giao, vua Thuấn sai Vũ qua Nam yên-vỗ Giao-Chỉ. Qua đời
Chu-Thành-Vương (1115-1079 trước công nguyên), họ Việt-Thường qua chín
lần thông-ngôn, tới cống-hiến mà nói rằng: "Trời không có gió bảo, không mưa
dầm, ngoài biển không
nổi sóng dữ đã ba năm nay, có lẽ ở Trung-Quốc có đấng thánh-nhân trị-vì, sao
chẳng tới chầu?". Lúc bấy giờ, Chu-Công đặt bài ca, đánh đàn thuật chuyện họ
Việt-Thường tới chầu: "Ô hi ta ta! Phi Đán chi lực, Văn-Vương chi đức", nghĩa là:
ôi ôi! vui thay, cảnh-tượng thái-bình không phải nhờ sức của Đán (tên của Chu-
Công) mà là nhờ đức của vua Văn-Vương. Nước Việt-Thường, tức đất Cửa-Châu,
ở phía nam Giao- Chỉ.
Quyển Hán-Quan-Nghi của Ứng-Thiện chép rằng: "trước tiên Trung-Quốc
mở mang từ "sóc" (phương bắc), rồi sau tiến sang phương nam lấy làm "cơ
chỉ". Hiện nay, các sách viết chữ "chỉ"
(cái nền) là viết sai.
Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến
khi nhà Tần loạn thì
Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết các quận quốc, rồi tự lập
làm vua. Khi ấy, Hán- Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập Đà làm Việt-Vương. Sau khi
Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu
xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa. Văn-đế lại sai người đưa thư qua trách
Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế, nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật.
Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con
cháu họ Triệu truyền xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm.
Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào
chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia làm
phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà Hán, lập Kiến-Đức là anh khác mẹ
lên làm vua Nam-Việt.
Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức
xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người Việt,
lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương- Ngô, Uất-Lâm, Hợp-Phố, Giao-
Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận đặt Thái-thú
để cai trị.
Qua nguyên-niên Sơ-nguyên của Nguyễn-Đế (48-33 trước công nguyên),
bãi bỏ hai quận Châu- Nhai và Đam-Nhỉ, còn lại bảy quận, kể cả Giao-Chỉ. Khi
đầu, Giả-Quyên-Chi tâu rằng: Châu-Nhai, Đam Nhỉ, đều ở hải ngoại; xứ ấy
thường cậy thế hiểm trở mà làm phản, đến lúc dụng binh tới dẹp, thì chỉ có miếng
đất vô dụng mà thôi, nếu bỏ đi cũng không đáng tiếc. Vua Hán b èn hạ lời chiếu bãi
bỏ.
Nhan-Sư-Cổ nói: bảy quận đều thuộc về Giao-Châu, theo chế độ nhà Hán, các
quận thuộc châu, nên đặt Thứ-sử Giao-Châu để cai-trị chung.
Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có
người đàn bà Giao-Chỉ
tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi
dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.
5
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Năm Kiến-An thứ 15 (210), Hiến-Đế dời chỗ cai trị qua quận Nam-Hải.
Vương-Phạm nói: chỗ quận trị của quan Thứ-sử ở đất Giao-Châu, cuối đời
Hán, đổi qua Nam- Hải, khi Tôn-Quyền mới được ấn mạng của nước Nguỵ, cũng
cầm cờ mao tiết làm tổng-đốc Giao-Châu và kiêm lĩnh Kinh-Châu. Tôn-Tư làm
Giao-Chỉ Thái-thú quá tham bạo, bị quận lại Lữ-Hưng giết, các quận Cửu-Chân
và Nhật-Nam đều phản, và hàng nhà Tấn.
Tôn-Quyền thấy Giao-Chỉ ở xa, bèn chia Giao-Châu đặt Quảng-Châu và dời
quận trị của Giao- Châu qua Long-Biên.
Nguyên niên Kiến-Hoành (269), vua nước Ngô là Tôn-Hạo sai các tướng là
Tiết-Hủ, Đào-Hoàng qua thu phục Giao-Chỉ, giết các tướng do nhà Tấn đặt ra, như
vậy đất Cửu-Chân lại thuộc về Ngô. Đến
lúc nước Ngô mất, Giao-Châu trở về nhà Tấn, trải qua các triều: Tống, Tề, Lương,
Trần, Tuỳ, Đường đều
để y như cũ, chỉ cải tên Cửu-Chân làm Ái-Châu, Nhật-Nam làm Hoan-Châu, đều
thiết Thứ-Sử, hoặc đặt Giao-Châu tổng-quản hoặc An-Nam đô-đốc để thống trị.
Qua đời Đờng mới chia Lĩnh-Nam làm đông tây đạo, đều đặt Tiết Độ-Sứ, lại đặt
ra năm quận: Quế, Quản, Ung, Dung và An-nam, đều thống thuộc Đông-đạo,
về phận Tây-đạo, thì đặt An-nam đô-hộ kiêm cả ngũ quản. Kinh-Lược-Chiêu-
Thảo-Sứ là Trương-Bá-Nghi đắp La-Thành tại An-nam, công trình chưa xong, đến
năm Nguyên-Hoà thứ 3 (808), đô-
hộ là Trương-Chu đắp tiếp thêm mới hoàn công. Lâm-Tư nói rằng: La-Thành chu-
vi 2000 bước, tốn hết
25 vạn công.
Đến đời vua Tuyên-Tông, niên hiệu Đại-Trung (847-859) có viên đô-hộ cai
trị không được đứng đắn, đãi dân bằng lối bạo ngược, họ bèn liên-kết với rợ
Nam-Chiếu, trở lại đánh phủ An-nam, cuộc rối loạn chém giết kéo dài luôn mấy
năm không thôi. Năm Hàm-Thông thứ 3 của vua Y-Tông, (682), nước Nam-
Chiếu đánh hãm La-Thành; viên Kính-Lược-Sử Thái-Tập bị chết, vua sai Cao-
Biền làm chức đô-hộ, đem quân đánh khôi phục phủ thành, chém tướng mọi là
Đoàn-Tù-Thiên và bọn quân mọi hơn 30.000
cái đầu; rồi tu bổ La-Thành lại, cải xưng đô-hộ-phủ Tịnh-Hải-Quân. Biền được trao
cho làm chức Tiết-Độ- Sứ.
Kịp dời Ngũ-Đại, các người thố hào ở các Châu Giao, Ái là Khúc-Hạo,
Dương-Diên-Nghệ, Kiều- Công-Tiện, v.v... thay nhau d ùng võ lực cướp quyền.
Tướng cũ của Nghệ là Ngô-Quyền bèn giết Công-Tiện mà tự lập làm vua,
truyền được vài đời, đến khi Ngô-Xương-Văn chết, thì có bộ thuộc là Ngô-Bình
(tức Lữ-Xữ-Bình), dành làm vua; Đinh-Bộ-Lĩnh giết Ngô-Bình, lãnh nước Giao-
Chỉ, tự xưng là Vạn-Thắng-Vương, lại tự ý cho con Liễn làm Tiết-Độ-Sứ.
Đầu nhà Tống, Liễn khiến Sứ nhập cống, Thái-tổ phong Bộ-Lĩnh làm Giao-
chỉ Quận-Vương và hạ chiếu cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-nam đô-hộ. Sau Liễn
và cha đều mất, em là Triền kế lập thì bị Thái- Hiệu Lê-Hoàn phế bỏ và cướp
ngôi. Lê-Hoàn giả làm tờ biểu dâng vua nh à Tống, nói rằng:
Triền khiến Hoàn thay làm vua. Thái-Tông nhà Tống bèn phong Hoàn làm
vua. Nhà Lê truyền được ba đời, cộng ba mươi năm, bị Lý-Công-Uẩn cướp
ngôi. Vua Chân-Tông lại phong Công-Uẩn làm Giao-Chỉ Quận-Vương.
Năm Long-Hưng thứ 2 của Hiếu-Tông (1164), Lý-Thiên-Tộ sai sứ nhập
cống, được vua Tống phong làm An-nam quốc-vương, tên nớc An-nam bắt đầu từ
đó.
Họ Lý truyền ngôi được tám đời, không có con trai, do con gái l à Chiêu-
Thánh nối ngôi.
Trong năm Canh-Dần niên hiệu Thiệu-Định nhà Tống (1230), Chiêu-
Thánh nhường ngôi cho chồng là Trần-Nhật-Cự (tức Trần-Cảnh), vua Tống lại
phong Nhật-Cự làm An-nam Quốc-Vương.
Năm Quý-Sửu (1253), Đại-Nguyên đã dẹp yên Vân-Nam, đến mùa đông
năm Đinh-Tỵ (1257), sai Đại-Soái là Ngột-Lương Hợp-Đãi đem quân qua biên-
giới An-nam, do đường Quảng-Tây để hội binh đánh nhà Tống; quân-đội nhà Trần
chống cự, không được thắng, bèn nạp khoản xưng thần, rồi khiến bồi-thần dâng lời
biểu và thường năm qua cống hiến phẩm vật.
Đến năm Tân-Dậu niên-hiệu Trung-Thống (1261), vua Thế-Tổ Hoàng-Đế
lại phong họ Trần làm vua An-nam; qua năm Đinh-Sửu, hiệu Chí-Nguyên
(1277), vua Trần mất, Thế-Tử (tức Nhật-Hoảng), không xin sắc-mạng, mà tự
lập làm vua, nên vua sai Thượng-Thư bộ Lễ là Sài-Thung sang mời nhập
6
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
triều; vua Trần mượn cớ có tật không đi. Qua năm sau, lại lấy cớ có tật không đi, sai
quốc-thúc là Trần-
Di-Ái sang triều-kiến. Thế-Tổ viện cớ vua có bịnh, bèn lập Di-Ái làm vua.
Năm Tây-Tỵ (1281), sai Sài-Thung nhận chức An-nam-Hành Tuyên-Uý-Sứ
Đô-Nguyên-Soái, xuất binh 1000 người, đưa Di-Ái về nước, đi đến địa-giới Vĩnh-
Bình, An-nam không chịu nhìn nhận, Dị-Ái sợ, ban đêm trốn về, chỉ sai bồi-thần
thay mặt tiếp rước Sài-Công vào nước, tuyên lời dụ chỉ của vua rồi trở
về.
Năm Nhâm-Ngọ, hiệu Chí-Nguyên (1282), quan Hữu-Thừa là Toa-Đô cầm
quân qua đánh thâu Chiêm-Thành, triều-đình sai sứ yêu-cầu vua An-nam cho
mượn đường tiến binh, và giúp quân lương, Thế-Tử (tức vua Trần) không chịu.
Đến mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), vua sai Trấn-Nam-
Vương Thoát-Hoan và quan Bình-Chương là A-Lý-Hải-Nha tiến tới biên giới,
Thế-Tử kháng cự, thua chạy, em là Ích-Tắc, quy thuận vào chầu, vua thương tình,
phong Ích-Tắc làm An-nam quốc-vương,
lại phong cận-thần là Trần-Tú-Viên làm Phụ-Nghĩa-Công, các quan l ại đi theo cũng
đều cho tước-vị.
Năm Đinh-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1287), Thế-Tổ sai Trấn-Nam-Vương và
quan Bình-Chương là
Áo-Lỗ-Xích cầm quân qua bình-định An-nam, khi quân kéo đến, Thế-Tử đánh
thua, chạy trốn ngoài hòn đảo ở giữa biển. Qua mùa xuân, tháng ba, năm sau,
Trấn-Nam-Vương thấy khí-hậu nước An-nam quá nóng-nực độc-địa, bèn kéo
quân về.
Trong năm Quý-Tỵ hiệu Chí-Nguyên (1293), vua lại sai Đại-Vương Ích-
Cát-Liệt-Đải và quan Bình- Chương là Lưu-Nhị-Bạt-Đô, v.v... qua đóng đồn tại
đất Việt, để chờ qua năm là năm Giáp-Ngọ (1294), trong khoảng mùa thu thì tiến
binh. Nhưng tháng giêng năm ấy vua Thế-Tổ băng; qua tháng tư mùa hạ, Thành-
Tông Hoàng-Đế lên ngôi, hạ chiếu bãi binh, lại khiến quan Thị-Lang bộ Lễ là Lý-
Hản, quan Lang- Trung là Tiêu-Thái-Đăng đi sứ qua An-nam tha tội cho Thái-Tử
An-nam và dẫn sứ-thần An-nam là Đào-
Tử-Kỳ về nước để tuyên lời dụ-chỉ. Lúc đó, Thế-Tử đã mất từ mấy năm, nên con
vua suất các quan liêu
ra đón, đặt bàn xông trầm, trông về cửa khuyết (nước Nguyên) mà lạy tạ ơn. Lại
khiến bồi-thần qua dâng lời biểu chúc mừng, xin làm phiên-thần vĩnh-viễn, chiếu-lệ
thường triều-cống, đến nay vẫn còn.
Nam-Giao đời xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần gọi là Tượng-
Quận, nhà Hán đặt làm ba quận: Giao-Châu, Cửu-Chân và Nhật-Nam. Nhà
Đường lại cải Giao-Châu làm An-nam phủ, quận Cửu- Chân làm Ái-Châu, quận
Nhật-Nam làm Hoan-Châu, tức là La-Thành, Thanh-Hoá và Nghệ-An ngày nay
vậy.
Quận-ấp
Đất Nam-Giao xưa, nhà Chu gọi là Việt-Thường, nhà Tần đặt tên là Tượng-
Quận. Đến cuối nhà
Tấn, Nam-Hải-Uý là Triệu-Đà đánh tóm thâm đất, tự lập làm một nước riêng và
tiếm xưng vương-hiệu.
Sơ niên Tây-Hán, Cao-Tổ phong Đà làm Nam-Việt-Vương, trải được mấy đời, thì
tướng Nam-Việt là Lữ-
Gia làm phản, giết vua Triệu và các sứ-thần của nhà Hán. Vũ-Đế sai Phục-Ba
tướng-quân Lộ-Bác-Đức sang đánh diệt Nam-Việt, rồi đặt ra chín quận, bổ quan
cai trị. Nước An-nam ngày nay tức là 3 quận Giao-Chỉ, Cửu-Chân và Nhật-Nam
ở trong chín quận ấy.
Về sau các triều đ ại kế tiếp, chế-độ quận huyện không nhứt định.
Qua đời Ngũ-Đại (907-959), người đất Ái-Châu là Ngô-Quyền, chiếm giữ
quận Giao-Chỉ; đời sau các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, nối nhau tranh quyền, đều
được nhà Tống phong vương tước. Quan-chế, hình-pháp và hành-chính, ít nhiều
học của Trung Hoa, còn về quận-ấp hoặc theo cũ, hoặc đổi mới, nay
lấy đại-khái mà chép lại.
Đại-La Thành-Lộ1: xưa là nước Giao-Chỉ, đời nhà Hán để như cũ, nhà
Đường đặt làm An-nam
đô-hộ-phủ, thành phủ ở tại phía tây bờ sông Lư-Giang; Trương-Bá-Nghi đời
Đường bắt đầu xây thành
1 Chữ-Lộ, theo nghĩa chính là đường đi, nhưng ở trong sách sử Địa thì có khi là một
tỉnh, một phủ, huyện, một địa hạt, một thành-
phố hay một châu quận.
7
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
ấy, Trương-Chu, Cao-Biền tiếp-tục sửa sang đắp thêm. Trong thời Chân-Tông nhà
Tống, Lý-Công-Uẩn
người quận ấy, kiến-quốc tại đây. Đến nhà Trần nối theo nhà Lý lấy đất ấy đạt thêm
ba phủ nữa: Long- Hưng, Thiên-Trường và Trường-An.
Long-Hưng-Phủ: tên cũ là Đa-Cương-Hương. Tổ-tiên họ Trần lúc còn hàn-
vi, ban đêm đi qua một cái cầu khe, khi qua rồi, ngoảnh lại, không thấy cầu nữa.
Chẳng bao lâu, họ Trần được nước, người
ta gọi khe ấy là Long-Khê, nên đổi tên Đa-Cương làm Long -Hưng.
Thiên-Trường-Phủ: tên cũ là Tức-Mặc-Hương, nơi phát-đích họ Trần. Đến
khi họ Trần được nước, xây một hành-cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để tỏ ra là
không bỏ quân chỗ phát-tích của ông
bà, rồi đổi tên làm Thiên-Trường-Phủ, chỗ ấy có nước thuỷ-triều chảy quanh
thành, hai bên bờ mọc nhiều cây hoa, khí th ơm ngát người, hoạ-thuyền qua lại,
giống như cảnh tiên vậy.
Trường-An-Phủ: vốn là động Hoa-Lư; chỗ sinh ra Đinh-Bộ-Lĩnh, cuối đời
Ngũ-Quý, họ Đinh lập quốc tại đó.
Qui-Hoá-Giang-Lộ: tiếp với biên-giới Vân-Nam.
Tuyên-Hoá-Giang-Lộ: tiếp giáp đạo Đăc-Ma.
Đà-Giang-Lộ: tiếp với địa-giới Kim-Xỉ.
Lạng-Châu-Giang-Lộ: tiếp với tả-giang và hữu-giang.
Bắc-Giang-Lộ: ở trên đông-ngạn của La-Thành, nước sông Lư-Giang thông
với biển, trên sông
có bắc 10 cái cầu đồ sộ và đẹp đẽ.
Như-Nguyệt-
Giang-Lộ. Nam-
Sách-Giang-Lộ.
Đại-Hoàng Giang-
Lộ. Hồng-Lộ.
Khoái-Lộ.
Châu
vậ
y.
Các châu đều tiếp địa-giới Quảng-Tây và Vân-Nam, tuy gọi là châu huyện,
nhưng sự thật là động
Quốc-Oai-Châu: ở phía nam thành Đại-La.
Cổ-Châu: ở Bắc-Giang.
Tiên-Châu: xưa gọi là Long-Biên.
Phú
-
Lư
ơng
-
Châ
u.
Tư-
Nôn
g-
Châ
u:
một
tên
khá
c
gọi
là
Dươ
ng-
Xá.
Địn
h-
Biê
n-
Châ
u:
một
tên
khá
c
gọi
là
Min
h-
Mỵ.
Vạn
-
Nha
i-
Châu: một tên khác gọi là Minh-Hoàng.
Văn-Châu: một tên khác gọi là Môn-Châu.
Thất-Nguyên-
Châu. Tư-Lang-
Châu.
Thái-Nguyên-Châu: một tên khác gọi là Hoàng-Nguyên.
8
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Thông-Nông-Châu.
Vị-Long-Châu: một tên khác gọi là Ất-xá.
Quang-Châu.
La-Thuận-Châu: một tên khác gọi là Lai-thần.
Hoàng-Đạo-Châu: tức Bình-
Lâm-Trường. Dư nữa, loại như
thế, không chép.
Tên Châu Thời Xưa
(Nhiều tên đã thay đổi, chỉ còn lại số ít)
Phong-Châu: nhà Ngô gọi Tân-Châu.
Tô-Mậu-
Châu.
Tô-
Vật-Châu.
Trường-
Châu. Nga-
Châu.
Đường-Châu: một tên khác gọi là Phương-Lâm.
Các Huyện
Võ-Ninh Huyện, Vạn-Tải Huyện, Khâu-Ôn Huyện, Tân-Lập Huyện, Hoảng
Huyện, Chỉ Huyện, Lịch
Huyện, Lan-Kiều Huyện, Truy-Diên Huyện, Cổ-Dũng Huyện, Cung Huyện, Quẫn
Huyện (Nguyên-sử chép
là Quật), Thượng-Pha Huyện, Môn Huyện.
Dư nữa không chép
Tên Huyện Thời Xưa
Long-Biên: Cuối đời Tây-Hán, trị-sở của Thứ-sử quận Giao-Châu tên là
Long-Uyên, sau vì có
Giao-Long hay lên nằm khoanh trên mặt nước, mới cải tên là Long-Biên1.
Chu-Diên: Huyện của đời Hán; đời Đường cải làm Diên-Châu, đặt ra hai
huyện Cao-Lăng và An-
Địn
h.
Liên-Lâu: Âm chữ trên là "liên", âm chữ dưới là "lâu". Thời Hán là tri sở của
thứ-sử Giao-Châu.
My-
Linh
: Trị-
sở
của
quan
Đô-
Uý quận Giao-Chỉ đời Hán.
Khúc-Dương: Âm là "Dương".
Câu-Lậu: Hồi trước Cát-Hồng làm huyện lệnh ở đây.
An-Thuận: Đời nhà Đường gọi là Thuận-Châu.
Sùng-Bình: Đời Đường là An-Bình.
Hải-Bình: Đời Đường là Ninh-Hải.
Cổ-Đô
An-
Định
1 K.Đ.V.S.T.G.C.M. chua rằng: Long-Biên là tên huyện đời nhà Hán, theo Thuỷ-
Kinh-Chú thì năm 13 hiệu Kiến-An (208), lúc bắt đầu
xây thành, có loài giao-long đến khoanh mình trên mặt nước, ở hai bên bến phía
nam và phía bắc, nhân đây mới cải tên lại là
Long-Uyên. Như vậy thì, tên Long-Biên có trước và Long-Uyên có sau.
9
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Phủ-Lộ Thanh Hoá
Đời Tây-Hán là quận Cửu-Chân, đời Tuỳ, Đường là Ái-Châu, những thuộc
Lương-giang, Ba-lung-giang, Trà-giang, Cống-giang, Thái-xa-giang, An-tiêm-
trường, Văn-trường,
Cổ-đằng-giáp, Chi-minh-giáp, Cổ-hoằng-giáp, Cổ-chiến-giáp, Duyên-giáp, Điền-sử-
giáp, Kiết-thuế-giáp.
Tên Huyện Thời Xưa
Đồ-Bàng: Chữ "bàng" theo Nhan-Sư-cổ-âm là "lung".
Cư-Phong: Là nơi Mã-Viện bắt được dư-đảng của Trưng-Trắc.
Vô-Công: Trị sở của Đô-Uý quận Cửu-Chân đời Hán.
Việt-Thường: Một tên khác là Cửu-Đức.
Nghệ An Phủ Lộ
Trong thời Tây-Hán là Quận Nhật-Nam, đời Tuỳ, Đường gọi là Hoan-Châu.
Ấu-Tân-Giang.
Giang. Kệ-Giang.
Minh-Đạo-
Thương-Lộ-
Giang. Đường-Gia-Giang.
Trương-Xá-
Giang.
Dư nữa không
chép.
Diễn-Châu lộ
Vốn là thuộc huyện của quận Nhật-Nam, gọi là Phù-Diễn và An-Nhân,
nhà Đường đổi tên là
Diễn-Châu.
Cự-Lại-Giang.
Tha-Viên-
Giang. Hiếu-Giang. Đa-Bích-
Trường. Cự-Lam-Xã.
Cao-
Gia-Xã.
Ban-Bát-Xã.
Dư nữa không chép.
Bố-Chánh phủ lộ
Nguyên là huyện Tượng-Lâm, quận Nhật-Nam đời Tây-Hán.
Cuối đời nhà Hán, có người trong ấp giết huyện lệnh, tự l ập thành nước, gọi
là Lâm-ấp.
Đầu niên hiệu Nguyên-Hoà (806-820) nhà Đường, lại thuộc về An-nam phủ,
nay tên là Bố-Chính. Trong xứ ấy, núi trùng-điệp, cho nên Liễu-Tử-Hậu có câu thơ
rằng: "Lâm-ấp đông hồi sơn tợ kính", nghĩa
là "từ phía đông quanh lại xứ Lâm-ấp, núi dựng như cây giáo".
Đồ-Lê-Giang: (Tiếp giới Chiêm-Thành).
1 Chữ giang là sông, nhưng gặp về địa-danh thì có nghĩa là một quận, huyện, xã,
v.v...
10
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Núi
Núi Phật-Tích: vì trên đá có dấu chân, nên đặt tên là Phật-Tích.
Núi Tản-Viên: hình núi như cái tán.
Núi Tiên-Du: có hòn đá bàn-thạch, dợn có đường gạch như bàn cờ, tương
truyền rằng: xưa có tiên đánh cờ vây ở đó. Bọn con gái đi hái củi thường đến
giao-hợp ở trên đá bàn cờ, nên hòn đá ấy đổ xuống và nứt vỡ.
Núi Võ-Ninh: Tục truyền rằng ở dưới núi có mộ của Triệu-Việt-Vương.
Núi Phổ-Lại: Năm Đinh-Vị, Chí-Nguyên, (có lẽ chép nhầm năm Đinh-Hợi
Chí-Nguyên tức năm
1287 A.D.), quan binh có t ới làm hang rào cây, đ ể chứa lương thực ở đó.
Núi Vạn-Kiếp: Trở mặt ra một con sông lớn, sau lưng có núi muôn trùng,
rừng rậm tre cao, dưới nước trên cầu, phong cảnh rất đẹp. Hưng-Đạo-Vương đã từng
ẩn ở trong ấy.
Núi Kiệt-Đặc: Đi đường tắt vào núi thì thấy hoa và cây rậm rạp tốt đẹp, có
suối ngọc chảy mòn
đá, lửa đóm rước người (vào chơi), mát mẽ lạ lùng, cõi đời không có.
Núi Yên-Tử: Gọi là Yên-Sơn hoặc là Tượng Sơn, bề cao lên quá từng
mây. Đầu niên hiệu
Hoàng-Hựu, nhà Tống (1049-1053), gọi là Xứ-Châu, hồi giữa niên-hiệu Đại-
Trung Trường-Phù (1008-
1016), triều đình lại ban tên là Tử-Y-Đông-Uyên. Đại-Sư là Lý-Tư-Thông có dâng
lên vua hải-nhạc danh- sơn-đồ và vịnh thơ tán: Phúc-Địa thứ tư tại Giao-Châu là
Yên-Tử-Sơn.
Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ,
Yểu-điệu hình khe trổ một
ngành. Tiên cỡi loan qua
ngồi cảnh tịnh,
Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
Tắc Sơn: Có động Yên-La, đỉnh núi Tý-ngọ, đều xinh đẹp lạ kỳ. Thiện-
Lạc-Vương thường dắt
đệ-tử vào đó.
Núi Địa-Cận: Núi ấy rất cao và hiểm trở, có cây tùng đã lâu đời, tục truyền
có rồng khoanh ở
trên cây ấy. Trần-Thái-Vương có làm hành -cung tại đó.
Núi Thiên-Dưỡng: Tốt đẹp mà hiểm, khi thủy-triều lên xuống mới chèo
ghe đi tới được. Họ
nhà vua xây dựng nhà cửa ở trong, để tránh qu ốc-nạn.
Động Võ-Lâm: Xưa nước An-nam, đời vua thứ tư của nhà Trần là Trần-
Nhân-Vương, bỏ ngôi vào ẩn ở đó để thành đạo, hiệu là Trúc-Lâm đạo-sĩ, có làm
Hương-hải-ấn-thi tập, truyền lại đời sau.
Núi Thần-Đầu: Núi ấy làm ranh giới cho hai quận La-Thành và Thanh-Hoá.
Thế núi liền nhau
có hai bờ, nước thuỷ-triều ngoài biển chạy vào ở giữa.
Thời xưa người ta tới đục mở ba hòn núi ở bờ phía nam để tiện sự qua
lại. Hồi trước Thánh- Vương nhà Lý, đánh nước Chiêm-Thành, ý muốn vượt qua
biển, nhưng gặp mù và sóng lớn, đi không được, mới cầu thần ở núi ấy, rồi đi
được, khi về lập đền thờ ở đó, từ đó về sau, các h òn núi đều thuộc về Thanh-Hoá
cả.
Long Đại-Nham: Gọi là Bửu-Đài, sầm uất mà tốt đẹp đặc biệt, trong vách
đá có khoảng trống làm chỗ thờ phật, ở ngoài như treo những hoành đối, trổ dáng
nhà cửa, giàn trước có con sông trong, bọc sau lưng có hồ sen đỏ, cây thông bóng
mát vài dặm, núi non liên tiếp muôn trùng. Xưa có truyền lại rằng có con chuột rất
lớn ở trong hang núi, n ên tục gọi là hòn lèn "Con dơi".
Núi Văn-Trường: Đá núi ấy rất tinh khiết mà trắng, làm hạt châu-thuỷ-tinh
được.
Biện-Sơn: Ở ngoài bể khơi, xưa có những thú-vật thình-lình hoá kiếp những
võ và xương tấp vào, xuyên qua hang đá, nay vẫn còn.
11
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Núi An-Hoạch: Sản-xuất đá làm bia, làm đỉa nghiên. Sách cũ có chép: Dự-
Chương Thái-Thú
Phạm-Nịnh sai sứ tới quận Cửu-Chân lấy đá làm khánh đ ể dùng ở trong trường học.
Núi Đông-Sơn: Chạy tới sông Chi-Minh, đã cao lại tốt, trên núi có hang, trèo
lên mà trông, sắc nước in trời thật là một cảnh rất đẹp. Phụ-thân tôi, (Lê-Tắc) thời
trung-niên, thôi làm quan, tự hiệu là
Tư-Duy cư-sĩ, thường ẩn-cư trong hang núi ấy.
Núi Khu-Na: Cao, rộng, nhiều ma, những con ma nầy mỗi khi ra khỏi núi lại
đốt nhà của người
ta. Nhân có nhà sư tên là Phụng-Phù, cứ ngày đêm đọc bài chú đại-bi, ma sợ tránh
đi xa, người ta mới khỏi bị hại. Núi ấy có nhiều trái cây ăn được, ai đến tha hồ mà ăn,
nhưng hễ đem về thì lạc mất đường.
Núi Lập-Thạch: Là một hòn đá đứng sững vậy. Tương truyền rằng thuở xưa
có ông thần dựng một hòn đá to lớn để vạch địa hạt Ái-Châu và Diễn-Châu.
Núi Đà-Kỹ: Có một khoảng đất vườn, ở sát bờ biển, sinh ra thứ đá đen như
hình con cờ, hình
sắc thật đẹp, đáng yêu. Ta thường ra chơi, gặp ông già nói rằng: "cách đây hơn một
trăm dặm, lại có sản-xuất con cờ đá trắng". Tục truyền rằng: người tiên thường đánh
cờ vây ở đó.
Núi Hương-Tượng: Rất cao rộng, sản-xuất gỗ thơm, tê-ngu và voi.
Sùng-Sơn: Thẩm-thuyên-Kỳ, đời nhà Đường bị đày qua đất Hoan-Châu, có
làm bài Sùng-Sơn hướng Việt-Thường thi:
Buổi mai leo đến núi Sùng,
Việt-Thường xế đến, ngồi trông
bóng chiều. Hang Sam-Cốc theo
chiều bóng lặn,
Từ Trúc-Khê ra thẳng Bắc-
Phương. Trúc-Khê, Minh-
Thuỷ thông-thương,
Rày Hang Sam-Cốc, xưa đường
Sùng-Sơn. Núi so le, cây ngàn
thưa nhặt,
Quấn quít nhau ràng mắc thành chùm.
Đầy gò lá quế xanh um,
Hoa đằng nẩy nở trong lùm
đá ngăn. Trời lồng lộng còn
dăng cửa sổ,
Cảnh âm thầm đá trổ hang
mây. Thợ trời dường lắm
công xây,
Bao nhiêu thẳng-tích người rày
tới nơi. Không phải muốn tìm
nơi quái dị,
Khoan thai chưa qu yết chí lui về.
Phân Sơn: Lại còn gọi là Liệt-Sơn, hai nước An-nam và Chiêm-Thành, lấy
núi này làm ranh-giới, tục truyền rằng cây cỏ ở trên núi ấy cũng chia hai: bên ngã về
Nam, bên ngã về Bắc.
Núi Kim-Ngưu: Sách xưa chép đá núi ấy đều sắc đỏ, trong đá có chất vàng,
đêm lại thì sáng như con đom-đóm.
Núi Đô-Long: Nơi Lưu-Phương đánh bại Lâm-ấp.
Sông
Sách xưa chép các con sông như Yêm-Thuỷ, Lô-Du-Thuỷ, Lậu-Thuỷ, Tây-
Tuỳ-Thuỷ đều từ Đông- nam đất Tuấn-Việt chảy đến Long-Môn đất Giao-Chỉ.
Dương-Hùng (đời nhà Hán) nói rằng: "các xứ hoang nhàn ở giải đất Giao-Chỉ,
nước tiếp giáp với
trời
".
Lô-Giang: Sông Tam-Đái (ba giải) chảy tới La-Thành, lại từ sông Lô thông
ra biển.
12
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Tô-Lịch-Giang: Chảy quanh La-Thành, trên sông có năm cái cầu, đều làm
rất đẹp. Hiệu Chí-
Nguyên năm Bính Tý (1276), nhà Tống mất, Tăng-Uyển-Tử trốn sang An-nam, đi
chơi qua cầu Lịch- Giang có ngâm bài thơ rằng:
Đầu bạc chàng Tô1, trời
một góc, Theo tiên vua Võ,
nhạn về Nam. Trên cầu
sông Lịch trông về Bắc,
Trải mấy lằn thu thấy
chẳng nhàm.
Tam-Đái-Giang: Nước sông Qui-Hóa từ Vân-Nam chảy về, nước sông
Tuyên-Quang từ Đặc-Ma-
Đạo chảy tới, nước sông Đà từ nguồn Chàng-Long chảy về, nhân có ngã ba, nên đặt
tên như vậy.
Phú-Lương-Giang: Là nơi Quách-Quỳ đời Tống đánh bại Giao-Chỉ.
Đại-Hoàng-Giang: Trong năm Giáp-Thân hiệu Chí-Nguyên (1284), là nơi
quan quân đánh phá
An-nam.
Đại-Ác-Giang: Một tên khác gọi là Đại-An.
Bà-Lữ-Uyên: (vực) nước sâu có nhiều thuỷ quái.
Từ-Liêm-Thuỷ: Theo sách Cửu-Vực-Chí chép rằng: Từ-Liêm-Thuỷ ở tại
Giao-Chỉ. Xưa ở bên sông ấy, Lý-Nhân-Tổ có mười anh em đều từ hiếu cả, nhân đó,
mới đặt tên như vậy.
Long-Môn-Thuỷ: Sách xưa chép: "huyện Phong-Khê, quận Giao-Chỉ có
Long-Môn-Thuỷ, nước sâu trăm tầm, cá con nào lớn vượt lên suối ấy được, thì
hóa rồng, nếu lên không được, thì bị thương nơi trán và bày mang ra".
Việt-Thường-Uyển: Cứ sách Phò-Nam-Ký, khoảng đất giữa khe núi, gọi là
uyển. Vườn Cửu-
Đắc, có tên là Bổ-Uyển.
Cổ-Tích
Việt-Vương-Thành, tục gọi là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-
vơng mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. Giao-
Châu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ theo
thuỷ-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân, người
cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn bằng đồng và
dải sắc xanh làm huy- hiệu. Vua nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi
chinh phục các Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An-Dương-
Vương. Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị thần tên là Cao- Thông
xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần, bắn một phát giết được muôn
người.
Triệu Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện
của An-Dương-Vương. Nay ở huyện Bình-Địa2, dấu tích cung điện và thành trì
Võ-Ninh, khiến Thái-Tử
Thuỷ làm chước tá hàng để tính kế về sau.
Lúc Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái nỏ
của ta, thì còn nước, không giữ đ ược thì mất nước".
An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thuỷ lấy làm
đẹp lòng, rồi hai người
lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thuỷ xem, Thuỷ xem rồi lấy trộm
cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân tới đánh thì An-Dương-Vương bại
trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất
của An-Dương-Vương hãy còn.
1 Tức Tô-Vũ.
2 K.Đ.V.S.T.G.C.M. quyển thứ nhất, dẫn quyển An-nam-Chí của Cao-Hùng-Trưng,
đề huyện Đông-Ngạn.
13
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Lưu-Chiêu nói: Giao-Chỉ tức là nước An-Dương. Mã-Phục-Ba đời Hán dẹp
yên giặc ở Giao-Chỉ, rồi
dựng trụ đồng để làm giới hạn cho nhà Hán. Đời nhà Đường, Mã-Tống làm chức
An-nam đô-hộ, lại dựng
hai cái trụ đồng, vì Tống là con cháu của Phục-Ba. Xưa có truyền lại rằng: ở nơi
động Cổ-Sum, tại Khâm- Châu có cái cột đồng của Mã-Viện và lời thề rằng: "Hễ cái
trụ đồng nầy gãy, thì nước Giao-Chỉ tiêu-diệt",
vì thế, người Giao-Châu, mỗi khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân
cột đồng, nên chẳng bao lâu, nơi ấy hóa thành gò.
Đổ-Phủ có câu thơ rằng: "Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục-Ba quân" nghĩa là:
"mưa phía Bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục-Ba".
Ở cương-giới nước Chiêm-Thành cũng có cột đồng. Mạnh-Hạo-Nhiên có câu
thi: "Đồng trụ Nhật- Nam đoan", nghĩa là cột đồng đứng đầu đất Nhật-Nam.
Sách Cửu-Vực-Chí nói: "cái giếng tại Giao-Châu không phải người đào".
Mã-Viện khi đã dẹp yên Giao-Chỉ, có làm trâu bò, lọc rượu để đãi quân-sĩ,
trong lúc yến tiệc, Viện thong thả nói với liêu thuộc rằng: "Người em họ của ta
tên là Thiếu-Du thường hay thương tôi khẳng- khái có chí lớn và nói: "kẻ sĩ sinh ở
đời, miễn sao vừa đủ ăn mặc, đi cái xe tầm thường, cỡi con ngựa xấu
xí, làm chức lại thuộc trong quận, giữ phần mộ của tổ-tiên, làng xóm cho là người
hiền-lành, như vậy thì
đủ rồi. Còn như ham muốn cho dư dũ, thì chỉ là tự mình làm khổ cho mình đó
thôi". Hồi ta ở giữa Lãng- Bạc và Tây-Lý, chưa diệt được giặc, dưới thì nước lụt,
trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem lên thấy diều bay là là xuống nước, nhớ
lại lời nói bình thời của Thiếu-Du, ta tiếc không làm sao được như vậy".
Uy-Vũ-Miếu: Tô-Đông-Pha chép rằng: "nhà Hán có hai ông Phục-Ba đối với
dân Lĩnh-Nam đều
có công-đức. Ông Phục-Ba trước là Bì-Ly Lộ-Hầu, ông Phục-Ba sau là Tân-Tức
Mã-Hầu. Nước Nam-Việt
từ đời Tam-Đại trở xuống, không đời nào dẹp yên cả. Đời Tần (246-207 trước
công nguyên), tuy có đặt quan-chức cai-trị, song rồi trở lại tình trạng man-di. Bì-
ly mới diệt được nước ấy và chia làm chín quận. Nhưng đến đời Đông-Hán, lại có
người con gái là Trưng-Trắc, khởi binh rung động hơn sáu mươi thành. Đương
thời vua Thế-Tổ mới dẹp yên thiên hạ, thấy dân đã mõi mệt và chán việc dụng
binh, bèn đóng cửa Ngọc-Quan từ tạ Tây-Vực. Phương chi Nam-Việt là chỗ hoang
viễn, không đáng phiền-lụy đến quân-
đội nhà vua, nếu không phải Tân-Tức (hầu) chịu khó đánh dẹp thì dân chín quận
vẫn khoác áo bên trái
đến bây giờ. Do đ ấy hai Phục-Ba đáng được miếu thờ tại Lĩnh-Nam.
"Ở trên bể có nhà thờ Phục-Ba, trong niên-hiệu Nguyên-Phong (1078-
1085), có lời chiếu chỉ của vua (Thần-Tông nhà Tống), phong làm Trung-Hiển-
Vương. Hễ có ghe thuyền qua biển đều tới chỗ ấy mà bói, khi nào quẻ bói tốt, nói
đi được, mới đi, hễ quẻ xấu thì thôi, sự linh ứng khiến người ta phải tin, đúng
đắn như đo-lường, cân chỉ thăng bằng, không hề sai chậy.
"Than-ôi! không phải là người có đức cao dày, thì đâu được như thế? Tôi nhân
có tội bị đày qua
Đàm-Nhĩ ba năm, nay lại trở về bể Bắc, qua lại đều gặp gió xuôi, không lấy gì đền
đáp ơn thần, bèn lập bia và làm bài minh như sau:
"Sóng gió khôn lường nỗi
hiểm nguy, Cá rồng lặng lẽ
dữ hơn chi,
Tin cậy hai ông đã phù trì,
Nước sâu muôn sải
thuyền tỉ-ti. Từ đây qua
Nam cởi lòng nghi, Vỗ
về lương tâm song suốt
đi, Từ đây về Bắc thẳng
mình mi. Lúc đạt lúc
cùng cứ giữ nghi; Sống là
anh-kiệt, thác hùng uy,
Thần tuy không nói, ý mình suy".
Xung-Thiên-Miếu: Tại làng Phù-Đổng, hồi xưa trong nước rối loạn, chợt
thấy một người có uy
có đức, dân đều về theo, người ấy bèn cầm quân dẹp loạn, rồi bay lên trời đi mất,
hiệu là Xung-Thiên- Vương, dân lập đền miếu để thờ.
14
An Nam Chí Lược - Quyển Đệ Nhất
Cổ-Châu-Phật: trong mùa xuân, mưa như xối, lụt to ở núi chảy xuống Trung-
Châu, chảy quanh
tại một chỗ, dân thấy lạ ra coi, trong nước có hòn đá giống như ông Phật; dân tới
cầu đảo có thần nghiệm, bèn đem gỗ khắc ra tượng Phật để thờ, gặp khi đại hạn, đến
cầu thì mưa liền, cho nên người ta
nói là "pháp vấn pháp võ", (nghĩa là mây mưa của phép Phật).
Báo-Thiên-Tự-Tháp: Xưa Lý-Thánh-Vương đánh Chiêm-Thành, được
người thợ giỏi, bảo xây một ngôi tháp cao mười ba tầng, đặt là "Thiên-Tư-Vạn-
Thọ-Thấp", lại lấy đồng đúc cái biển-ngạch gọi là "Đao-Lợi-Thiên", bị sét đánh
mất, không biết rơi nơi nào. Sau có người làm ruộng thấy được, đem dựng
lại, sét đánh mất một lần nữa.
Cửu-Trùng-Đài: Xưa Lý-Nhân-Vương làm một cái đài ở trên bờ ao Thuỷ-
Tinh. Khi gần xong, bị
sét đánh hư, làm lại cũng bị sét đánh nữa. Sau nghe tiếng giông pháp ra, Nhân-
Vương lấy vuông lụa điều trùm lên đầu, mang gươm lên đài, đốt hương mà khấn
vái rằng: "Nếu trời không cho tôi là ngay thật thì nên trách bảo tôi, còn cái đài
này chẳng có tội gì". Khấn xong một lát thì trời tạnh, đài ấy bèn làm xong. Người
cháu ba đời là Lý-Cao-Vương, khi nào nghe sấm sét thì sợ gần như chết. Các quan
hầu hiến một chước rằng: "Khi nào có s ấm sét thì lấy tay ôm cánh tay ông Ph ật, sẽ
khỏi lo sợ".
Phấn-Dịch-Đình: Theo tục người ta vì nắng nực, làm nhiều nhà trạm ở
dọc đường để cho người đi đường ghé nghỉ mát. Ông tổ họ Trần lúc còn hàn-vi,
hay ghé nghỉ tại đình trạm ấy, có nhà sư
nói rằng: "Anh (họ Trần), đến ngày sau nên bậc đại-quý", nói xong nhà sư biến đi
đâu mất. Kịp đến lúc
họ Trần dựng được nước nhà, liền khiến trong nước chỗ nào có đình tạm thì làm một
pho tượng Phật để
thờ mà báo ơn.
Kim-Bài-Châu: Có một ông già ở bên sông, người con đi ra bắt được một
cái trứng đem về. Ông già nuôi cái trứng ấy nở ra một con rắn, lại càng yêu
chuộng nuôi nấng, sau con rắn lớn lên, rồi xuống sông, thường đêm đem cá bỏ
trong sân. Khi ông già chết, ngày cúng tế, con rắn ấy tới dưới sân
bò quanh rồi đi; sau bên ông đất cát bồi đắp mãi thành một cái bãi, con cháu ông
ấy được lợi đời đời. Người ta nói: "Đó là con rắn báo ơn".
☯
☯
☯
Trong niên-hiệu Khai-Hy (1205-1207) vua Ninh-Tông nhà Tống, có Trương-
Hiệp, được vua ban
tên Thuỵ là Văn-Hiến, nguyên làm chức Triều-Thỉnh-Lang, trực Bữu-Chương-
Các, có soạn bộ sách Lịch- Đại-quận-huyện-địa-lý-thư 30 quyển, có chép các
châu quận nguyên thuộc An-nam đô-hộ phủ đời Đường. Về sau có thay đổi
không giống nhau, nay chép lại tạm để tiện việc tham-khảo:
An-nam lộ gồm có: Tống-Bình, Thái-Bình, Giao-Chỉ, Châu-Diên, Long-
Biên, Bình-Đạo, Võ-Bình.
Phong-Châu gồm có: Gia-Ninh, Tân-Xương, Thừa-Hóa, Cao-Sơn, Chu-
Duyên (Đường thư
chép là Thù-Lục (?)).
Tương-Châu gồm có: Tương-Giang, Ba-Linh, Hộc-Sơn,
Hoằng-Viễn. Nham-Châu gồm có: Thường-Lạc, Tư-
Phong, Cao-Thành, Thạch-Nham. Điền-Châu gồm có: Đô-
Cứu, Huệ-Giai, Võ-Long, Hoành-Sơn, Như-Lại.
Ái-Châu gồm có: Cửu-Chân, An-Thuận, Sùng-Bình, Nhật-Nam, Quân-Ninh,
Trường-Lâm.
Hoan-Châu gồm có: Cửu-Đức, Phổ-Dương, Việt-Thường, Hoài-Ho
 






Các ý kiến mới nhất