Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HCM
Hán - nôm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:03' 05-02-2011
Dung lượng: 239.5 KB
Số lượt tải: 18
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:03' 05-02-2011
Dung lượng: 239.5 KB
Số lượt tải: 18
Số lượt thích:
0 người
HÁN NÔM 1
CHỮ VIẾT Ở VIỆT NAM VÀ NGÔN NGỮ VĂN TỰ HÁN
LƯỢC SỬ CHỮ HÁN
Theo hứa thận
Theo LÉON WEIGER
Theo khảo cổ học
QUI TẮC VIẾT CHỮ HÁN
Các nét chính trong chữ hán
Thứ tự của các nét trong một chữ
Tính căn đôi của từng chữ
LỤC THƯ
Tượng hình
Chỉ sự
Hội ý
Giả tá
Chuyển chú
Hình thanh
BỘ THỦ
ĐẶC ĐIỂM CỦA CHỮ HÁN
Đặc điểm chung
Nghĩa của từ - nghĩa gốc - nghĩa cổ - nghĩa mở rộng
Từ đồng nghĩa
Điển cố
Từ hán việt
CÁC THỂ LOẠI HÁN NÔM
Vận văn
Biền văn
Tản văn
MINH GIẢI VĂN BẢN HÁN VĂN
I. CHỮ VIẾT Ở VIỆT NAM VÀ NGÔN NGỮ VĂN TỰ HÁN
TOP
Như chúng ta đã biết, trước chữ Quốc ngữ hiện nay, đã có một thời gian dài dân tộc ta sử dụng chữ Hán như một thứ văn tự chính.Có nhiều ý kiến thắc mắc:Vậy trước chữ Hán, dân tộc ta đã có chữ viết chưa? Ðây là một vấn đề khá phức tạp chưa thể giải đáp rõ ràng, dứt khoát vì còn thiếu nhiều cứ liệu xác thực, cụ thể.
Nhìn vấn đề một cách tổng quát,chúng ta có đầy đủ cơ sở để khẳng định rằng mọi hệ thống chữ viết hiện nay đều bắt nguồn từ hình vẽ(đi từ đơn giản -> phức tạp -> cách điệu hóa cao độ).Và trong những giai đoạn xa xưa của lịch sử, một dân tộc khi đã biết sử dụng hình vẽ như một phương tiện thông tin giao tiếp thì tất yếu họ cũng sẽ biết vận dụng hình vẽ như một hệ thống ký hiệu nhằm phục vụ việc lưu trữ và truyền thông hoạt động ngôn ngữ của mình. Vấn đề còn lại chỉ là hạn độ thời gian ( hoặc sớm hoặc muộn) và mức độ thôi thúc của các nhu cầu xã hội.
Xã hội ta thời Văn Lang Âu Lạc đã là một xã hội có tổ chức, đã đạt tới những bước tiến nhất định trong lĩnh vực sáng tạo văn hóa ( vật chất và tinh thần). So với trình độ tiến hóa chung của cả vùng, đất nước ta lúc đó là một trong những tụ điểm văn minh sáng chói với nền văn hóa Ðông Sơn rực rỡ mà di tích còn lại đến nay là những bộ sưu tập trống đồng, công cụ lao động, vũ khí v.v..hết sức phong phú, đa dạng, nổi tiếng trên toàn thế giới. Với trình độ phát triển về mọi mặt trong một xã hội có tổ chức như vậy, sự xuất hiện của một hệ thống chữ viết dưới một dạng thức nào đó, được sử dụng trong một phạm vi nhất định nào đó là một hiện tượng văn hóa hoàn toàn phù hợp với qui luật tiến hóa chung của nhân loại.
Ở nước ta, cho tới nay mặc dù chúng ta chưa tìm được đầy đủ ( hoặc đã tìm được nhưng chưa khôi phục, giải mã được) những di vật cụ thể đủ để chứng minh cho những suy đoán và nhận định về hệ thống chữ viết cổ xưa của riêng dân tộc. Nhưng trong sử sách của ta và củaTrung Hoa cổ đại, sự tồn tại và hình dạng của loại chữ viết này đã được ghi lại khá cụ thể:
-Thiên Mộng Kí trong Thánh Tông di thảo có nhắc đến một tờ tâu viết bằng chữ bản địa, hình dạng ngoằn ngoèo nhà vua không đọc được, quần thần cũng chịu sau có thần nhân báo mộng cho biết đó là chữ cổ của nước Nam, ở miền núi rừng còn có người đọc được .
- Sách Tiền Hán thư viết: đời Ðào Ðường (khoảng thiên niên kỉ 2 trước công nguyên) có họ Việt Thường ở phương Nam cử sứ bộ qua và vào triều biếu con rùa thần, có lẽ sống tới nghìn năm, trên lưng nó có khắc chữ như con nòng nọc ghi việc trời đất mở mang vua Nghiêu sai chép lại, gọi là Qui dịch.
Như vậy là cả 2 tài liệu kể trên đều khẳng định người Việt đã có chữ viết riêng từ thời xa xưa và đều thống nhất với nhau ở một điểm chữ viết của người Việt lúc đó khác với chữ Hán về hình dạng và kết cấu.
Trong Thanh Hóa quan phong Vương Duy Trinh-một tác giả TK XIX –cũng nói đến một thứ chữ cổ của ta, khẳng định rằng trước khi dùng chữ Hán ta đã có một thứ chữ khác.
Sau đây là một số giả định về chữ viết của người Việt cổ:
+ Từ thời Văn Lang- Âu Lạc, người Việt cổ có thể đã có chữ viết riêng để ghi lại tiếng nói của mình. Chữ viết ấy có thể do họ tự sáng tạo ra theo đường hướng hình thành và phát triển chung của các loại chữ viết trong thế giới cổ đại, tức là theo trình tự từ hình vẽ thông tin tới ký hiệu qui ước gắn bó với ngôn từ rồi tiến lên xây dựng chữ viết có hệ thống hoàn chỉnh. Như chúng ta đã biết, khả
 






Các ý kiến mới nhất